vanban.org

Bản án 217/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND tỉnh Bắc Giang Tuyên án 20/12/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho chị Đào Thị T được ly hôn với anh Lê Văn V.

Về con chung: Giao cho chị Đào Thị T là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Lê Công V, sinh ngày 27/8/2005 đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Anh Lê Văn V có quyền thăm nom con chung, không ai được cản tr… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Đào Thị T - Lê Văn V"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Đào Thị T được ly hôn với anh Lê Văn V.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 217/2022/HNGĐ-ST
Ngày : 20/12/2022
V/v : “Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thông

Các Hội thẩm nhân dân: 1.Bà Lê Thị Minh Khánh

2.Ông Ngô Văn Bê

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà:

bà Hà Thị Hải - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 20/12/2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 222/2022/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2022 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 186/2022/QĐXX-ST ngày 16/11/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 144/2022/QĐ-ST ngày 02/12/2022 giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: Chị Đào Thị T; Sinh năm : 1987 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

*Bị đơn: Anh Lê Văn V; Sinh năm : 1985 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Hiện đang lao động tại nước ngoài.

Địa chỉ cuối cùng của anh Lê Văn V ở Việt Nam là Thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai ngày 01/11/2022. Nguyên đơn chị Đào Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân : Trước khi kết hôn thì chị và anh V được tự do tìm hiểu. Xét thấy có tình cảm nên anh chị đã tự nguyện tiến tới hôn nhân và được sự đồng ý của hai bên gia đình. Anh chị có đăng ký kết hôn tại UBND xã Bảo Sơn, huyện Lục Nam ngày 12/11/2004. Sau khi kết hôn thì chị về nhà anh V ở xã Xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang chung sống cùng gia đình anh V. Ban đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nhỏ do bất đồng quan điểm. Khoảng năm 2018 sau khi anh V đi lao động tại Đài Loan được 02 năm để phát triển kinh tế gia đình thì vợ chồng tôi bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn. Ban đầu vợ chồng còn liên lạc hỏi thăm nhau sau đó ít liên lạc dần, không còn quan tâm nhau nữa do sống xa nhau lâu ngày nên không còn tình cảm. Hiện nay vợ chồng không còn liên lạc gì với nhau và đã sống ly thân từ đó đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được chị đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Văn V.

Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là cháu Lê Công V, sinh ngày 27/8/2005. Hiện nay con chung đang ở cùng với mẹ anh V. Sau khi ly hôn chị đề nghị được nuôi dưỡng con chung. Về cấp dưỡng chị không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, công nợ chung: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết trong vụ án này.

Ngoài ra chị T còn trình bày: Hiện nay anh V vẫn đang lao động ở nước ngoài, địa chỉ cụ thể của anh V ở nước ngoài chị không cung cấp được cho Tòa án được vì chị không liên lạc được với anh V, anh V vẫn liên lạc về cho mẹ đẻ anh V là bà Lê Thị V, SN 1953, trú tại: Thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang, nhưng bà V cũng không cung cấp địa chỉ cho chị biết nên chị không biết để cung cấp cho Tòa án.

Do tính chất công việc nên chị không thể tham gia được các phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình giữa chị và anh V được, nên chị đề nghị Tòa án cho chị được vắng mặt trong các phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử vụ án tranh chấp Hôn nhân gia đình giữa chị và anh V.

Tại đơn trình bày cháu Lê Công V trình bày: Cháu là con của bố Lê Văn V và mẹ Đào Thị T, hiện nay cháu đang ở cùng với bà nội là bà Lê Thị V. Nếu bố mẹ cháu ly hôn thì nguyện vọng của cháu xin được ở với mẹ cháu là Đào Thị T.

Bị đơn anh Lê Văn V không có bản tự khai.

Ngày 04/11/2022 và ngày 11/11/2022 Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã tiến hành làm việc với mẹ đẻ của anh Lê Văn V là bà Lê Thị V, sinh năm 1953, trú tại: Thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang để giao thông báo thụ lý vụ án và yêu cầu bà V thông báo cho anh V biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý vụ án tranh chấp Hôn nhân gia đình giữa chị Đào Thị T và anh Lê Văn V; yêu cầu anh V viết bản tự khai, lời khai về cho Tòa án; yêu cầu bà V cung cấp địa chỉ cụ thể của anh V ở nước ngoài. Tuy nhiên qua 2 lần làm việc bà V vẫn giữ nguyên quan điểm là anh V ở nước ngoài vẫn thường xuyên liên lạc về cho gia đình nhưng bà không cung cấp địa chỉ cụ thể của anhVịnh ở nước ngoài cho Tòa án, vì đây là việc cá nhân của anh V, đồng thời bà cũng không đồng ý thực hiện theo yêu cầu của Tòa án thông báo cho anh V biết để anh V gửi lời khai về. Kể từ đó đến nay, Tòa án cũng không nhận được bất kỳ lời khai nào của anh V gửi về.

Tại phiên tòa nguyên đơn chị Đào Thị T vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Lê Văn V vắng mặt không có lý do.

Thay mặt Hội đồng xét xử thông qua đơn khởi kiện, bản tự khai của chị Đào Thị T; Biên bản làm việc với mẹ đẻ của anh V là bà Lê Thị V và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.

Về việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn chị Đào Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn anh V không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với anh V; Căn cứ vào công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao xử vắng mặt anh Lê Văn V là đúng.

-Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng điều 51, 53, 56; Điều 81, 82, 83 và khoản 2 điều 123; điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 28; khoản 3 điều 35; điểm c khoản 1 điều 37; khoản 4 điều 147; điều 271; điều 273; điều 150; khoản 2 điều 479 BLTTDS; khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đào Thị T.

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đào Thị T được ly hôn anh Lê Văn V.

Về nuôi con chung: Giao con chung là cháu Lê Công V, sinh ngày 27/8/2005 cho chị Đào Thị T là người trực tiếp nuôi dưỡng. Cấp dưỡng nuôi con không đặt ra do chị T không yêu cầu. Anh Lê Văn V có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh V thực hiện quyền này.

Về án phí : Chị Đào Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng: Chị Đào Thị T là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt chị Đào Thị T.

Đối với bị đơn anh Lê Văn V vắng mặt tại phiên tòa: Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã tiến hành làm việc với mẹ đẻ của anh V là bà Lê Thị V để giao thông báo thụ lý vụ án, yêu cầu bà V thông báo cho anh V biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý vụ án tranh chấp Hôn nhân gia đình giữa chị Đào Thị T và anh Lê Văn V; Yêu cầu anh V viết bản tự khai, lời khai về cho Tòa án; Yêu cầu bà V cung cấp địa chỉ cụ thể của anh V ở nước ngoài. Bà Lê Thị V trình bày: Anh V ở nước ngoài vẫn thường xuyên liên lạc về cho bà. Tuy nhiên, Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà bà V vẫn không cung cấp địa chỉ, tin tức của anh V cho Tòa án, cũng như không chịu thực hiện yêu cầu của Tòa án thông báo cho anh Thành biết. Nhận thấy đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cho bị đơn theo quy định của pháp luật. Vì vậy, căn cứ vào Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao; khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn anh Lê Văn V theo thủ tục chung.

.Về thẩm quyền: Chị Đào Thị T là nguyên đơn có đơn xin ly anh Lê Văn V, anh V hiện đang lao động tại nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ (theo Công văn số 23647/QLXNC-P5 ngày 04/11/2022 của Cục Quản lý xuất nhập cảnh - Bộ công an), thì anh V đã xuất nhập cảnh 08 lần, lần xuất cảnh gần nhất là ngày 08/3/2018 hiện chưa có thông tin nhập cảnh trở lại, địa chỉ cuối cùng của anh V ở Việt Nam là: Thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Như vậy, đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình có đương sự ở nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3]. Về quan hệ Hôn nhân: Chị Đào Thị T và anh Lê Văn V kết hôn ngày 12/11/2004 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Bảo Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Đây là hôn nhân hợp pháp.

Theo chị T trình bày: Sau khi kết hôn thì chị về nhà anh V ở xã Xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang chung sống cùng gia đình anh V. Ban đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nhỏ do bất đồng quan điểm. Khoảng năm 2018 sau khi anh V đi lao động tại Đài Loan được 02 năm để phát triển kinh tế gia đình thì vợ chồng chị bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn. Ban đầu vợ chồng còn liên lạc hỏi thăm nhau sau đó ít liên lạc dần, không còn quan tâm nhau nữa do sống xa nhau lâu ngày nên không còn tình cảm. Hiện nay vợ chồng không còn liên lạc gì với nhau nữa và đã sống ly thân từ đó đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được chị đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Văn V.

Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Đào Thị T. Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn chị T và anh V chung sống với nhau hạnh phúc, quá trình chung sống có phát sinh những mâu thuẫn nhỏ. Đến năm 2018 thì anh V đi xuất khẩu lao động, thời gian đầu thì vợ chồng vẫn thường xuyên liên lạc với nhau, sau đó thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng về quan điểm sống và vợ chồng đã không còn liên lạc với nhau không còn quan tâm đến nhau nữa. Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị T và anh V đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đào Thị T. Xử cho chị Đào Thị T được ly hôn với anh Lê Văn V.

[4]. Về con chung: Chị Đào Thị T và anh Lê Văn V có 01 con chung là cháu Lê Công V, sinh ngày 27/8/2005. Hiện nay cháu đang ở với bà V, ly hôn chị T đề nghị được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi con cho chị.

Xét yêu cầu nuôi con chung của chị T: Hội đồng xét xử thấy hiện nay anh V đang lao động tại nước ngoài không thể trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Anh Lê Văn V từ khi đi nước ngoài thì cháu Lê Công V vẫn do bà V là mẹ đẻ anh V nuôi dưỡng. Nay chị T có nguyện vọng được nuôi con chung và cháu V cũng có nguyện vọng được ở với mẹ, nên cần giao cháu Lê Công V cho chị Đào Thị T là người trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc con chung. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu của chị Đào Thị T về nuôi con chung. Giao cho chị Đào Thị T là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Lê Công V, sinh ngày 27/8/2005 đến khi con chung đủ 18 tuổi là phù hợp với điều kiện thực tế cũng như quyền và lợi ích về mọi mặt của con chung. Sau khi ly hôn anh Lê Văn V có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở anh V thực hiện quyền này.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

.Về tài sản, công nợ: Chị Đào Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

. Về án phí: Chị Đào Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 81; 82; 83 và khoản 2 Điều 123; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; khoản 3 điều 153; Điều 271; Điều 273; khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:

1.Về hôn nhân: Cho chị Đào Thị T được ly hôn với anh Lê Văn V.

2.Về con chung: Giao cho chị Đào Thị T là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Lê Công V, sinh ngày 27/8/2005 đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Anh Lê Văn V có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh V thực hiện quyền này.

Trường hợp anh Lê Văn V về Việt Nam có nguyện vọng nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy đinh tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.

3.Về án phí: Chị Đào Thị T phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000680 ngày 01/11/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Đào Thị T đã nộp đủ.

4.Về quyền kháng cáo bản án: Chị Đào Thị T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.

Anh Lê Văn V hiện đang ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa có thời hạn kháng cáo Bản án là 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Án xử công khai sơ thẩm.

Cỡ chữ