- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn S cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Phạm Văn S 24 (hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”, thời gian thử thách là 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ––––––––––––––– Bản án số: 217/2021/HS-ST Ngày 29 - 12 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ,
TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Quang Vinh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Minh Huyền và ông Phạm Hồng Thái
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Trang là Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Bích Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2021 tại Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 214/2021/TLST-HS ngày 10 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 209/2021/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2021, đối với bị cáo:
Phạm Văn S - Sinh ngày 23/8/1974, tại huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Tổ o, khu 7p, phường Quang H, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Công nhân Công ty than Hạ Long - TKV; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Con ông: Phạm Văn H; Con bà: Vũ Thị C; Vợ: Nguyễn Thị T, có 02 con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo đầu thú ngày 31/8/2021, hiện đang bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”
- có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Anh Đào Đức Tr - sinh năm: 1976; Nơi cư trú: Khối q, thị trấn Bình M, huyện Kim S, tỉnh Ninh Bình – vắng mặt
* Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị T - sinh năm: 1982; Nơi cư trú: Tổ o, khu 7p, phường Quang H, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh – có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Văn S và anh Đào Đức Tr cùng làm việc tại Công ty than Hạ Long – TKV và ở cạnh nhà nhau tại tổ o, khu 7p, phường Quang H, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Chị Nguyễn Thị T là vợ S có mở quán bán nước chè ở cửa nhà. Từ khoảng tháng 5/2021, anh Tr thường xuyên đến ngồi ở quán chị T đến đêm muộn. Một vài lần, S bắt gặp anh Tr cầm tay chị T tại quán nước, S đã nhiều lần nhắc nhở nhưng anh Tr vẫn tiếp tục. Do phát hiện anh Tr và chị T có mối quan hệ tình cảm, nên giữa S và anh Tr đã xảy ra mâu thuẫn. Rạng sáng ngày 31/8/2021, S đi làm ca 2 về nhà, xem lại hình ảnh lưu của camera lắp ở cửa thì thấy chị T và anh Tr cầm tay, hôn nhau, nên S rất bức xúc với anh Tr và chửi chị T. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, S nhìn thấy anh Tr ngồi đối diện với chị T ở quán nước cửa nhà. Lúc này, do bực tức với anh Tr, nên S đi vào bếp, lấy con dao cán nhựa màu đỏ, cất vào túi quần bên phải, rồi đi đến sau lưng anh Tr. Khi cách anh Tr khoảng 0,5m, tay trái S cầm vành tai trái của anh Tr, còn tay phải rút dao từ túi quần, cắt đứt vành tai trái và vứt xuống đất. Ngay sau đó, anh Tr được mọi người đưa đi cấp cứu, còn S đến Công an phường Quang H đầu thú. Cơ quan điều tra thu giữ 01 con dao cán nhựa màu đỏ, dài 21cm, lưỡi dao dài 11cm, phần rộng nhất của lưỡi dao là 1,5cm do Phạm Văn S giao nộp.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 767/21/TgT ngày 21/10/2021, của Tr tâm pháp y, Sở y tế tỉnh Quảng Ninh đối với anh Đào Đức Tr, kết luận: vết thương sát gốc vành tai trái mất nhiều hơn 2/3 vành tai, còn một phần dái tai trái. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 18%. Vết thương vành tai trái do vật sắc tác động trực tiếp gây nên.
Kết luận giám định số 2093 ngày 26/11/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, thể hiện: Phần lưỡi dao do Phạm Văn S giao nộp có máu của anh Đào Đức Tr.
Bị cáo Phạm Văn S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung trên. S khai thêm: S và anh Tr có quan hệ quen biết và chơi với nhau. Trước đó mấy tháng, S phát hiện anh Tr có tình cảm với vợ mình, nên đã nhiều lần nhắc nhở và xảy ra mâu thuẫn với anh Tr. Sau khi xem Camera thấy anh Tr vẫn cố tình có hành động tình cảm ngay trước cửa nhà mình, nơi anh Tr biết rõ có Camera ghi lại, nên S bức xúc không kìm nén được đã gây thương tích cho anh Tr. Con dao S lấy từ bếp của gia đình. S đã bồi thường số tiền 56.000.000 đồng cho anh Đào Đức Tr.
Người bị hại anh Đào Đức Tr có lời khai phù hợp nội dung tóm tắt vụ án về việc sáng ngày 31/8/2021, anh bị S dùng dao cắt tai gây thương tích. Anh Tr không thừa nhận có quan hệ tình cảm với chị Nguyễn Thị T. Anh Tr khai nhận bị cáo S đã bồi thường đầy đủ cho anh và anh không có yêu cầu bồi thường gì khác, anh có đơn đề nghị không khởi tố vụ án đối với S.
Người làm chứng chị Nguyễn Thị T có lời khai phù hợp tóm tắt nội dung vụ án, chị T thừa nhận có quan hệ tình cảm thân thiết với anh Tr, có vài lần anh Tr cầm tay chị T khi đến nhà chơi.
Cáo trạng số 01/CT-VKSCP, ngày 08/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Phạm Văn S về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp điểm a khoản 1 điều 134 Bộ luật hình sự).
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp các điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự), điểm b,s khoản 1, khoản 2 điều 51, khoản 1,2,5 điều 65, điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử phạt bị cáo S mức án từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 đến 60 tháng. Tịch thu tiêu hủy vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
* Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng giữa bị cáo và bị hại đã thỏa thuận bồi thường đầy đủ, phía bị hại không có yêu cầu gì thêm và đã có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo, xét sự vắng mặt của bị hại không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Vì vậy tòa án xét xử vụ án vắng mặt bị hại là đúng quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Cẩm Phả, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng theo quy định pháp luật.
* Về nội dung vụ án:
. Tại cơ quan điều tra và phiên tòa hôm nay bị cáo Phạm Văn S đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của người bị hại, lời khai của người làm chứng, phù hợp với kết quả thực nghiệm điều tra, phù hợp với bản kết luận pháp y về cơ chế gây nên thương tích của người bị hại, phù hợp kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh về vết máu của bị hại trên con dao bị cáo giao nộp, phù hợp với nội dung trích xuất Camera và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ các chứng cứ đó đủ cơ sở kết luận: Do có mâu thuẫn từ trước với anh Đào Đức Tr, nên khoảng 09 giờ 00 phút ngày 31/8/2021, tại tổ 1, khu 7B, phường Quang H, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, bị cáo Phạm Văn S có hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm, gây thương tích cho anh Đào Đức Tr, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 18%.
Như vậy hành vi của bị cáo Phạm Văn S đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự (thuộc trường hợp quy định tại điểm a Khoản 1, Điều 134 Bộ luật hình sự ).
Điều 134 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm: ...
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k Khoản 1 Điều này”.
. Hµnh vi cña bÞ c¸o lµ nguy hiÓm cho xã héi, x©m ph¹m ®Õn søc kháe cña ng êi kh¸c, g©y mÊt trËt tù trÞ an.V× thÕ thÊy cÇn thiÕt ph¶i xö bÞ c¸o mét møc ¸n nghiªm kh¾c ®Ó gi¸o dôc bÞ c¸o vµ phßng ngõa chung.
. Hội đồng xét xử cũng xem xÐt bÞ c¸o cã th¸i ®é khai b¸o thµnh khÈn, ¨n n¨n hèi c¶i,đã chủ động bồi thường khắc phục hậu quả nên giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo điểm b, s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Người bị hại cũng có một phần lỗi khi có những hành vi không đúng mực với vợ của bị cáo gây bức xúc lớn cho bị cáo và đã có đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên áp dụng khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự khi lượng hình.
Bị cáo có nhân thân tốt, có 04 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có địa chỉ cư trú rõ ràng. Từ đó thấy bị cáo thỏa mãn các điều kiện quy định tại điều 2 và không thuộc trường hợp nào quy định tại điều 3 của Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán – Tòa án nhân dân Tối Cao hướng dẫn về các trường hợp cho hưởng án treo. Xét thấy bị cáo có có khả năng tự cải tạo và nếu cho bị cáo hưởng án treo cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Mặt khác cũng xét bị hại có lỗi khi có mối quan hệ quá mức thân mât và có nhiều hành vi không đúng mức với vợ của bị cáo trong thời gian dài gây cho bị cáo nhiều bức xúc là nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo. Từ đó xem xét cho bị cáo được hưởng án treo. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi trú nên hủy lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường đầy đủ, bị hại không yêu cầu bồi thường thêm nên không xem xét.
.Về vật chứng của vụ án: là 01 con dao cán nhựa màu đỏ, dài 21cm không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
. Về án phí: Bị cáo chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điểm đ Khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp các điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự); Điểm b,s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 1,2,5 Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 125, Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự
Xử phạt: Phạm Văn S 24 (hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”, thời gian thử thách là 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND phường Quang H, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND phường Quang H giám sát giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Hủy lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Công an TP Cẩm Phả đối với bị cáo.
Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 con dao cán nhựa màu đỏ, dài 21cm (tất cả theo biên bản giao nhận vật chứng số: 75/BB-THA; ngày 23 tháng 12 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả)
Căn cứ Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKS; CA Tp Cẩm Phả; - TAND, VKS tỉnh; - Sở tư pháp - THA dân sự Tp Cẩm Phả; - Bị cáo; - Lưu. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Bùi Quang Vinh |