vanban.org

Bản án 217/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên Tuyên án 28/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lý A D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Lý A D 03 năm 6 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/5/2017. Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,2 gam hêrôin gửi giám định toàn bộ và được hoàn lại 0,17 gam; 8,23 gam Methamphetamine đã trích mẫu 0,28 gam gửi giám định và được hoàn lại 0,22 gam. Chi cục Thi hành án dâ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý A D - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lý A D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 217/2017/HSST
Ngày: 28/9/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ - TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Định.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Lý A Nỏ.

2. Bà: Bạc Thị Kiên.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Đỗ Thành Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2017, tại trụ Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 220/2017/HSST ngày 29/8/2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 241/2017/QĐXXST-HS ngày 15/9/2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lý A D; Tên gọi khác: Không.

Sinh năm: 1970, tại Điện Biên.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản N, xã H, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.

Dân tộc: H'Mông; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không.

Trình độ học vấn: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng.

Con ông: Lý Vả T (Đã chết) và con bà Giàng Thị D1, sinh năm 1939.

Có vợ: Lý Thị S (Đã chết) và 04 người con, con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1997.

Tiền án, tiền sự: 01 tiền án về tội "Vận chuyển, tàng trữ trái phép chất ma túy".

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 29/5/2017 cho đến nay. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Lý A D: Ông Phạm Đình K - Luật sư.

Cộng tác viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 28/5/2017, Lý A D đang ngồi trước cửa nhà tại bản N, xã H, huyện Đ, tỉnh Điện Biên thì có một người đàn ông dân tộc H'Mông khoảng 30 tuổi (Không biết tên, địa chỉ) đi qua và hỏi D tìm trâu lạc. Sau một hồi trò truyện, người đàn ông đó đã bán cho D 02 gói Hêrôin được gói bằng mảnh nilon màu trắng và 85 viên Hồng phiến đựng trong 02 gói được gói bằng mảnh nilon màu xanh, miệng có nếp gấp cố định (Trong đó có 01 gói đựng 19 viên Hồng phiến và 01 gói đựng 66 viên Hồng phiến) với giá 1.500.000 đồng. Sau khi bán ma túy cho D và nhận tiền xong, người đàn ông đi đâu không rõ. Lý A D sau khi mua được số ma túy trên đã cất giấu 02 gói Hồng phiến lên mái gianh nhà D, còn 02 gói Hêrôin, D cất vào túi áo ngực bên phải đang mặc. Khoảng 16 giờ ngày 29/5/2017, D lấy gói nilon màu xanh đựng 19 viên Hồng phiến, lấy ra 03 viên sử dụng bằng hình thức hút, số còn lại trong gói nilon D cất giấu vào chỗ cũ. Hồi 16 giờ 30 phút cùng ngày, khi D lấy 02 gói Hêrôin trong túi áo ngực bên phải để ra ghế cạnh giường ngủ chuẩn bị sử dụng thì Tổ công tác Công an huyện Đ phối hợp với Công an xã H phát hiện, bắt quả tang và thu giữ trên mặt chiếc ghế cạnh giường ngủ của Lý A D 02 gói được gói bên ngoài bằng mảnh nilon màu trắng, mở bên trong 02 gói đều chứa các cục bột màu trắng nghi là Hêrôin. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Lý A D, thu giữ tại mái nhà lợp gianh của D 02 gói được gói bằng mảnh nilon màu xanh, miệng có nếp gấp cố định, trong đó 01 gói mở bên trong có 16 viên nén màu hồng, 01 gói mở bên trong có 65 viên nén màu hồng và 01 viên nén màu xanh, trên mặt tất cả các viên nén đều có chữ WV, nghi là ma túy tổng hợp.

Ngày 30/5/2017, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tiến hành mở niêm phong, xác định trọng lượng đối với số vật chứng thu giữ của Lý A D, cụ thể như sau:

- Số chất bột màu trắng nghi là Hêrôin có trọng lượng là 0,2 gam, gửi toàn bộ làm mẫu giám định.

- 81 viên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp có trọng lượng là 8,14 gam, trích 0,19 gam là mẫu giám định.

- 01 viên nén màu xanh nghi là ma túy tổng hợp có trọng lượng là 0,09 gam, gửi toàn bộ làm mẫu giám định.

Tại bản kết luận giám định số 509/GĐ-PC54 ngày 25 tháng 6 năm 2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận:

- Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Lý A D gửi giám định là Hêrôin.

- Mẫu viên nén màu hồng, màu xanh được trích ra từ vật chứng thu giữ của Lý A D gửi giám định là Methamphetamine.

Tại bản Cáo trạng số 152/QĐ-VKS-HS ngày 29/8/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Lý A D về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, trong lời luận tội đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lý A D về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999; khoản 3 Điều 7; khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội: Xử phạt bị cáo Lý A D từ 03 năm 6 tháng đến 04 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy 0,2 gam Hêrôin gửi giám định toàn bộ và được hoàn lại 0,17 gam; 8,23 gam Methamphetamine đã trích mẫu 0,28 gam gửi giám định và được hoàn lại 0,22 gam là vật chứng của vụ án.

Án phí: Căn cứ Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a, điểm c khoản 1 Điều 23; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14. Miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm đối với Lý A D.

Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với nội dung cáo trạng truy tố của VKS và Quyết định đưa vụ án ra xét xử đối với Lý A D về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự là kịp thời, đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, do nhận thức của bị cáo còn hạn chế (Không biết chữ), sống ở vùng núi cao đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc hộ nghèo và bị cáo là lao động chính trong gia đình có 04 người con; thật thà khai báo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự; điểm p, khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14: Xử phạt bị cáo Lý A D mức án thấp nhất; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; miễn án phí HSST đối với bị cáo.

Bị cáo nhất trí nội dung Cáo trạng; lời luận tội của đại diện Viên kiểm sát; lời bào chữa của người bào chữa. Bị cáo không tranh luận, không có ý kiến bổ sung lời bào chữa cho hành vi phạm tội của mình; lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Tại phiên tòa, bị cáo Lý A D một lần nữa thừa nhận: Do bản thân nghiện ma túy nên vào lúc 16 giờ 30 phút ngày 29/5/2017, Lý A D đã có hành vi cất giấu trái phép 0,2 gam Hêrôin và 8,23 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo phù hợp với các bản cung của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong, mở niêm phong xác định trọng lượng vật chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đúng với nội dung Cáo trạng; Lý A D đã cất giấu trái phép hai chất ma túy khác nhau, tổng tỷ lệ % khối lượng các chất ma túy so với mức tối thiểu quy định tại khoản 2 Điều 194 Bộ Luật hình sự sau khi quy đổi là 45,15% (Dưới 100%). Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, do vậy buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi do bản thân đã gây ra.

. Xét tính chất mức độ và hậu quả của tội phạm là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền của nhà nước trong lĩnh vực quản lý và sử dụng các chất ma túy, làm gia tăng người nghiện ma túy trong xã hội và tiếp tay cho các loại tội phạm, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn, cần được phát hiện kịp thời và áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời răn đe, phòng ngừa tội phạm chung trên địa bàn.

. Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân xấu, cụ thể: Lý A D sử dụng chất ma túy từ năm 2009. Ngày 18/5/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên xử phạt 09 năm tù về tội "Vận chuyển, tàng trữ trái phép chất ma túy". Ngày 30/01/2016 chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương, bản án này chưa được xóa án tích. Ngày 29/5/2017, tiếp tục có hành vi "Tàng trữ trái phép chất ma túy" nên phải chịu tình tiết tăng nặng "Tái phạm" theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS; người bào chữa cho Lý A D đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1; điểm p, khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội. Xử phạt bị cáo Lý A D mức án thấp nhất. Tuy nhiên, bị cáo đã có thời gian cải tạo, giáo dục trong trại giam, đủ để bản thân nhận thức tác hại của ma túy mà vẫn tiếp tục phạm tội mới về ma túy; bị cáo có 04 người con đều đã trưởng thành và có khả năng lao động, đảm bảo cuộc sống, vì vậy chỉ chấp nhận cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 và các tình tiết có lợi cho bị cáo quy định tại khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội.

. Về hình phạt bổ sung; vật chứng; án phí và các vấn đề khác trong vụ án:

Hình phạt bổ sung: Bị cáo ngoài thu nhập chủ yếu từ làm ruộng, không còn thu nhập ổn định khác, không có tài sản riêng có giá trị nên không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự, vì vậy không áp dụng.

Vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,2 gam hêrôin gửi giám định toàn bộ và được hoàn lại 0,17 gam; 8,23 gam Methamphetamine đã trích mẫu 0,28 gam gửi giám định và được hoàn lại 0,22 gam, là vật cấm lưu hành.

Án phí: Lý A D là người đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống tại bản N, xã H, huyện Đ, tỉnh Điện Biên là xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; tại phiên tòa, bị cáo xin miễn án phí hình sự sơ thẩm và có đơn xin miễn án phí nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 99 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a, điểm c khoản 1 Điều 23; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14. Miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm đối với Lý A D.

Người đàn ông dân tộc Mông mà D khai là người bán số Ma túy cho D, do không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này nên không có cơ sở xem xét, giải quyết.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999; khoản 3 Điều 7; khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội;

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 76; Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a, điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí.

1. Tuyên bố: Bị cáo Lý A D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

2. Xử phạt bị cáo Lý A D 03 năm 6 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/5/2017.

3. Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,2 gam hêrôin gửi giám định toàn bộ và được hoàn lại 0,17 gam; 8,23 gam Methamphetamine đã trích mẫu 0,28 gam gửi giám định và được hoàn lại 0,22 gam. Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Điện Biên đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/8/2017.

4. Án phí: Miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm đối với Lý A D.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ