- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị L và Hà Thanh T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1990 được ly hôn với ông Hà Thanh T, sinh năm 1978.
- Căn cứ chính? Điều 27 Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 Án phí, lệ phí tòa án; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự đây
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 2168/2017/HNGĐ-ST Ngày: 27 - 9 - 2017 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Linh Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hoàng
2. Bà Bùi Thị Cẩm Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Thương, thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Nga - Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 9 năm 2017, tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 0825/2016/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2016, về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 496/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 9 năm 2017 giữa các đương sự:
Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị L; địa chỉ: 144/34 đường Phan Văn Hân, Phường 17, quận B, Thành phố H, (có mặt);
Bị đơn là ông Hà Thanh T; địa chỉ: 144/34 đường Phan Văn Hân, Phường 17, quận B, Thành phố H, (vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 09/5/2016 nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày và yêu cầu:
Bà và ông Hà Thanh T kết hôn vào năm 2011 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân dân Phường 17, quận B, Thành phố H. Quá trình chung sống có một con tên: Hà Thanh T, sinh ngày 10 tháng 10 năm 2011.
Sau khi kết hôn được hai năm thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông T không có trách nhiệm đối với gia đình, thường xuyên cờ bạc, rượu chè, thậm chí còn đánh đập bà. Vì thương con bà đã cố gắng chịu
- 2 -
đựng, nhưng ông Hà Thanh T vẫn không thay đổi cách sống. Hiện nay tình cảm thương yêu của bà đối với ông Hà Thanh T đã không còn và nhận thấy vợ chồng không có khả năng đoàn tụ nên bà đề nghị Tòa án xem xét cho bà được ly hôn với ông Hà Thanh T.
Về con chung: Bà có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu ông Hà Thanh T cấp dưỡng nuôi con .
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Bị đơn là ông Hà Thanh T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông T vẫn không có mặt tại Tòa án để nộp hoặc đưa ra ý kiến của mình đối với yêu cầu của bà L.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Về thủ tục tố tụng, Thẩm phán đã vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử. Về giải quyết, xét xử vụ án Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân thủ quy định của pháp luật về tố tụng. Người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật khi tham gia vụ án. Về nội dung vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Quan hệ giải quyết trong vụ án giữa bà Nguyễn Thị L và ông Hà Thanh T là ly hôn. Căn cứ khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự đây là loại vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Về các yêu cầu của đương sự:
Bà Nguyễn Thị L cho rằng mâu thuẫn giữa bà và ông Hà Thanh T đã trầm trọng nên yêu cầu được ly hôn. Qua đó, Hội đồng xét xử xét thấy: trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án và thông báo về phiên phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Hà Thanh T không nộp (gửi) cho Tòa án ý kiến của mình hay có mặt tại Tòa án để tham gia hòa giải đưa ý kiến hay yêu cầu của mình về việc giải quyết vụ án. Điều này thể hiện ông Hà Thanh T không quan tâm đến yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị L, tại phiên tòa ông Hà Thanh T lại vắng mặt. Như vậy, thực chất hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị L và ông Hà Thanh T đã không còn, tình cảm không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó việc chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị L đối với ông Hà Thanh T theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình là có cơ sở.
- 3 -
Về con chung: Bà Nguyễn Thị L có nguyện vọng được nuôi con tên Hà Thanh T, sinh ngày 10 tháng 10 năm 2011 và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, hiện nay trẻ Hà Thanh T đang do bà Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục, do vậy để đảm bảo quyền lợi của trẻ, Hội đồng xét xử quyết định giao trẻ Hà Thanh T cho bà Nguyễn Thị L tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục.
Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn: Bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1990 được ly hôn với ông Hà Thanh T, sinh năm 1978.
Về con chung: Giao trẻ Hà Thanh T, sinh ngày 10 tháng 10 năm 2011 cho bà Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Bà Nguyễn Thị L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Ông Hà Thanh T được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con. Vì lợi ích của con khi có lý do chính đáng, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn: Bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí về ly hôn là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng theo biên lai thu tiền số 0007819 ngày 17 tháng 5 năm 2016 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh; Bà Nguyễn Thị L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.
3. Quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị L được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng ông Hà Thanh T vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND Q. Bình Thạnh; - Chi cục THA dân sự Q.Bình Thạnh; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Linh Phượng |