vanban.org

Bản án 216/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Cho chị Phan Thị H ly hôn anh Hồ Tấn L.

Giao con chung là cháu Hồ Thu T, sinh ngày 10 tháng 7 năm 2009 và cháu Hồ Tấn P, sinh ngày 19 tháng 7 năm 2017 cho chị Phan Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Hồ Tấn L không phải cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai đượ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án giữa nguyên đơn Phan Thị H và bị đơn Hồ Tấn L"
  • Tòa quyết gì? Cho chị Phan Thị H ly hôn anh Hồ Tấn L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUY PHƯỚC,
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 216/2024/HNGĐ-ST
Ngày 24-7-2024
V/v ly hôn, tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Lệ Quyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Đình Phương.

2. Ông Tạ Xuân Chiến.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thanh An, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hoài – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 90/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2024, về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 107/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phan Thị H, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Hồ Tấn L, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 21 tháng 11 năm 2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phan Thị H trình bày: Chị và anh Hồ Tấn L tìm hiểu được 02 năm thì tự nguyện đi đến hôn nhân. Anh chị đăng ký kết hôn vào ngày 26 tháng 6 năm 2004 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Bình Định. Sau khi cưới vợ chồng chị sống tại thôn T, xã P, huyện T. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc thời gian đầu, sau đó xảy ra mâu thuẫn do anh L hay nhậu nhẹt, chị khuyên ngăn nhưng anh L không nghe và nhiều lần kình cãi, xô xát dẫn đến mất tình cảm gia đình. Vợ chồng chị cũng đã hòa giải nhưng anh L không thấy sai và không thay đổi. Vợ chồng chị vẫn còn sống chung với nhau nhưng không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L.

Về con chung: Chị và anh L có 03 con chung là Hồ Thu H1, sinh ngày 13 tháng 3 năm 2005, Hồ Thu T, sinh ngày 10 tháng 7 năm 2009 và Hồ Tấn P, sinh ngày 19 tháng 7 năm 2017. Hiện 03 con đang sống với vợ chồng chị. Nếu ly hôn, chị yêu cầu được nuôi 02 con chung là cháu T, cháu P và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con. Riêng cháu H1 đã trên 18 tuổi nên chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ: Chị và anh L tự thoả thuận về tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh chị không có nợ chung.

Quá trình giải quyết vụ án, anh Hồ Tấn L không cung cấp văn bản trình bày ý kiến của mình cũng như không tham gia tố tụng.

Tại phiên Toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước phát biểu:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án tiến hành thu thập đầy đủ các tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án. Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị H được ly hôn với anh L, giao 02 con chung Hồ Thu T và Hồ Tấn P cho chị H nuôi, chị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị miễn xét. Cháu H1 đã trên 18 tuổi và chị H không có yêu cầu giải quyết nên đề nghị không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Phan Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con với anh Hồ Tấn L là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh L đang cư trú tại thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh L vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh L.

Quá trình giải quyết vụ án, chỉ có chị H cung cấp tài liệu chứng cứ. Hội đồng xét xử chỉ căn cứ vào những tài liệu chứng cứ này và kết quả thu thập chứng cứ của Tòa án để giải quyết vụ án.

Về hôn nhân: Chị Phan Thị H và anh Hồ Tấn L tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 26 tháng 6 năm 2004 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Bình Định nên hôn nhân giữa chị H, anh L là hôn nhân hợp pháp. Hội đồng xét xử xét thấy, chị H yêu cầu ly hôn do anh L nhậu nhẹt, chị khuyên ngăn nhưng anh không nghe mà vợ chồng kình cãi, xô xát. Tuy là vợ chồng, sống chung với nhau nhưng anh L, chị H không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Chị H nộp đơn ly hôn, anh L không đưa ra ý kiến gì để đoàn tụ mà bỏ mặc hạnh phúc gia đình. Điều đó có thể chứng minh tình trạng hôn nhân giữa chị H, anh L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nếu duy trì cuộc hôn nhân này cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, cho chị H được ly hôn anh L.

Về quan hệ con chung: Chị H, anh L có 03 con chung tên là Hồ Thu H1, sinh ngày 13 tháng 3 năm 2005, Hồ Thu T, sinh ngày 10 tháng 7 năm 2009 và Hồ Tấn P, sinh ngày 19 tháng 7 năm 2017. Chị H yêu cầu được nuôi 02 con chung là cháu Hồ Thu T và Hồ Tấn P. Xét thấy, thời gian không sống chung chị H vẫn đảm bảo các điều kiện để cháu T, cháu P được phát triển bình thường. Do đó, áp dụng khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, giao cháu T và cháu P cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét. Riêng Hồ Thu H1 đã trên 18 tuổi, chị H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về tài sản chung và nợ: Chị H, anh L không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, chị Phan Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, các Điều 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Tuyên xử:

1. Cho chị Phan Thị H ly hôn anh Hồ Tấn L.

2. Giao con chung là cháu Hồ Thu T, sinh ngày 10 tháng 7 năm 2009 và cháu Hồ Tấn P, sinh ngày 19 tháng 7 năm 2017 cho chị Phan Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Hồ Tấn L không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc làm ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cũng như việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Chị Phan Thị H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí mà chị H đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001596 ngày 02 tháng 4 năm 2024 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phước.

Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Nơinhận:

Cỡ chữ