vanban.org

Bản án 216/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Long Biên, TP. Hà Nội Tuyên án 26/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LONG BIÊN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 216/2022/HS-ST
Ngày: 26/9/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Loan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Luyện

Bà Nguyễn Thị Nga

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoàng Yến – Thư ký Toà án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Dƣơng Bá Thành Luân - Kiểm sát viên.

Ngày 26/9/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 219/2022/TLST-HS ngày 15/9/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 224/2022/QĐXXST-HS ngày 16/9/2022 đối với bị cáo: NGUYỄN VĂN P, sinh năm 1997; HKTT: , xã Nam Phương Tiến, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Q và bà Ngô Thị A; Vợ là Nguyễn Thị H, có 1 con năm 2018; tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 538 ngày 25/7/2022 do Công an quận Long Biên lập và lý lịch địa phương cung cấp thì bị cáo không có tiền án, tiền sự. Bắt ngày 20/7/2022. Hiện đang tạm giam tại Tạm gia số 2 – thành phố Hà Nội. (Có mặt).

Bị hại:

1. Chị Tào Phương T, sinh năm 1997

Trú tại: Thôn Đông Nam, xã Nam Phương Tiến, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt)

2. Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1994

Trú tại: Thôn Đông Nam, xã Nam Phương Tiến, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 20/11/2020, anh Nguyễn Văn L đến Công an phường Gia Thụy, quận Long Biên trình báo sự việc ngày 07/11/2020, anh L bị trộm cắp 01chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 29X1-***** tại phòng trọ số 103 ngõ 564 Nguyễn Văn Cừ, phường Gia Thụy, quận Long Biên, thành phố Hà Nội.

Sau khi tiếp nhận đơn trình báo, Cơ quan điều tra Công an quận Long Biên đã tiến hành điều tra, làm nội dung vụ án như sau:

Anh Nguyễn Văn L cùng vợ là chị Tào Phương T sinh sống tại phòng trọ số 103 ngõ 564 Nguyễn Văn Cừ, phường Gia Thụy, Long Biên, Hà Nội. Vợ chồng anh L có cho hai nhân viên là Nguyễn Văn P và anh Nguyễn Văn Chuyên (sinh năm: 1992, HKTT: xã Hoàng Văn Thụ, Chương Mỹ, Hà Nội) sinh sống cùng từ ngày 25/10/2020. Quá trình sinh sống, anh Nguyễn Văn L thường để chiếc xe mô tô BKS: 29X1-***** tại phòng trọ. Nguyễn Văn P và Nguyễn Văn Chuyên thỉnh thoảng có mượn chiếc xe trên của anh L nhưng phải được sự đồng ý của anh L. Ngày 07/11/2020, vợ chồng anh L đi về quê ở Hưng Yên và để lại chiếc xe trên cùng chìa khóa tại phòng trọ. P và Chuyên vẫn ở lại phòng trọ. Tối ngày 07/11/2020, P có gọi điện cho anh L hỏi bao giờ lên Hà Nội thì anh L trả lời ngày 08/11/2020 sẽ lên. Đến khoảng 12h00 'ngày 08/11/2020, vợ chồng anh L về phòng trọ số 103 ngõ 564 Nguyễn Văn Cừ, phường Gia Thụy, Long Biên, Hà Nội thì không thấy chiếc xe mô tô BKS: 29X1-***** đâu. Anh L phát hiện mất đăng ký chiếc xe trên để tại ngăn kéo trong tủ quần áo của mình trong phòng trọ. Vợ chồng anh L hỏi thì được Chuyên cho biết P đã lấy chiếc xe BKS: 29X1-***** kèm đăng ký chiếc xe từ lúc nào không rõ. Chị T có gọi điện thì P trả lời lấy chiếc xe để về quê và hẹn ngày hôm sau sẽ trả. Ngày 09/11/2020, anh L có gọi điện thì được P cho biết thiếu tiền nên cầm cố xe trên và hẹn đến ngày 11/11/2020 sẽ đi lấy xe về cho vợ chồng anh L. Đến ngày 20/11/2020, vợ chồng anh L vẫn chưa thấy P mang xe về trả, gọi điện thì P tắt máy không liên lạc được. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn P khai nhận phù hợp với lời khai của anh Nguyễn Văn L, P khai nhận tự lấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 29X1-***** và đăng ký xe mà không hỏi ý kiến anh L và chị T (chủ sở hữu tài sản). Ngày 09/11/2020, P đã mang chiếc xe trên đến cầm cố tại cửa hàng cầm đồ 486, số 486 phố Ngọc Lâm, phường Gia Thụy, quận Long Biên, Hà Nội gặp ông Phạm Văn Cường cầm cố được 8000.000 ₫ (Tám triệu đồng). Số tiền trên P đã tiêu cá nhân hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số 65 ngày 13/3/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Long Biên xác định tài sản bị chiếm đoạt là: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 29X1-*****, đã qua sử dụng có trị giá: 22.600.000 đồng (Hai mươi hai triệu sáu trăm nghìn đồng).

Tại Bản cáo trạng số 217/CT-VKS-LB ngày 14/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội đã truy tố Nguyễn Văn P về tội: Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn P đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luật hành vi của bị cáo Nguyễn Văn P đã đủ yếu tố cấu thành tội: Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b,i,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử phạt bị cáo P mức án từ 8-10 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại nên không xem xét.

Nói lời sau cùng, bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, VKS truy tố bị cáo là đúng, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận Long Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn P tại phiên toà phù hợp với lời khai của tại cơ quan điều tra, lời khai bị hại, lời khai người làm chứng, bản kết luận định giá tài sản, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã truy tố, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 08/11/2020, Nguyễn Văn P có hành vi trộm cắp chiếc xe Honda Wave BKS: 29X1-*****của anh Nguyễn Văn L và chị Tào Phương T tại phòng trọ số 103 ngõ 564 Nguyễn Văn Cừ, phường Gia Thụy, Long Biên, Hà Nội. Trị giá tài sản chiếm đoạt là 22.600.000đ (Hai mươi hai triệu sáu trăm nghìn đồng). Hành vi của bị cáo có đủ dấu hiệu cấu thành tội: Trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đã bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm b,i,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử thấy Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được Bộ luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị tương đối lớn, đáng ra phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian. Tuy nhiên, khi lượng hình, HĐXX thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, vợ bị cáo hiện đang mang thai đến tháng sinh, bản thân bị cáo đã bị tạm giam một thời gian đủ để suy nghĩ về hành vi sai trái của mình vì vậy HĐXX mở lượng khoan hồng, cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có thu nhập ổn định vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Về dân sự: Anh Nguyễn Văn L chị Tào Phương T đã nhận số tiền bồi thường 17.000.000 đồng của bị cáo và không còn đề nghị gì về dân sự nên không giải quyết.

Đối với ông Phạm Văn Cường, sinh năm: 1966, HKTT: tổ 12 Bồ Đề, Long Biên, Hà Nội là người trực tiếp nhận cầm đồ chiếc xe BKS: 29X1-***** tại cửa hàng cầm đồ 486, ông Cường cho biết ngày 09/11/2020 có nhận cầm đồ chiếc xe BKS: 29X1-***** của P với số tiền 8000.000 ₫ (Tám triệu đồng), thời gian cầm đồ là 10 ngày. Tuy nhiên, khi hết hạn P báo lại không lấy xe được, ông Cường liên hệ nhiều lần nhưng không được. Khoảng hơn 1 tháng sau ông Cường đã bán chiếc xe trên, hiện không xác định được ai đã mua và sử dụng chiếc xe trên. Việc ông Cường cầm cố chiếc xe không nhận thức được là tài sản trộm cắp và có đăng ký kinh doanh nên cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý là có căn cứ, phù hợp pháp luật.

Bị cáo phải chịu án phí và người tham gia tố tụng được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH;

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm b,i,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn P 10 (Mười) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 20 (Hai mươi) tháng, trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa nếu không bị tạm giữ, tạm giam về một tội phạm khác.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Nam Phương Tiến, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được giao nhận bản án hợp lệ.

Cỡ chữ