- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L- Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ s…"
- Tòa quyết gì? Điểm c khoản 3 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 216/2020/HS-ST Ngày 28 - 7 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Sỹ Trứ.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đoàn Anh Minh.
Ông Nguyễn Đức Nhuận.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Công Tứ – Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Ấn - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 7 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 191/2020/TLST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 204/2020/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn L, sinh năm 1993 tại tỉnh Quảng Bình; nơi cƣ trú: Thôn 5, xã X, huyện B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L (đã chết) và bà Mai Thị H; bị cáo có vợ là Phạm Thị Thu H và 02 ngƣời con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 05/11/2019.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Đậu Ngọc B, sinh năm 1992, nơi cƣ trú: Thôn 6, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt
Những người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng:
Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1984. Vắng mặt
Ông Đậu Ngọc G, sinh năm 1987. Có mặt
Ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 2000. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Nguyễn Văn L và ông Đậu Ngọc B cùng tạm trú tại cơ sở trọ số 3C/50B, khu phố Bình Đức 2, phƣờng Bình Hòa, thị xã Thuận An (nay là thành phố Thuận An), tỉnh Bình Dƣơng.
Vào ngày 24/08/2019, giữa L và B có xảy ra mâu thuẫn do B có dùng tay đấm một ngƣời bạn của L (chƣa rõ nhân thân, địa chỉ) và đƣợc mọi ngƣời can ngăn. Đến ngày 25/08/2019, bà Nguyễn Thị N là ngƣời quen của B, có hẹn B và L gặp nhau tại cơ sở trọ để hòa giải. Trong lúc nói chuyện thì B bị một số thanh niên (chƣa rõ nhân thân, địa chỉ) là bạn của Nguyễn Văn L1 là em trai của L dùng tay đánh nhƣng đƣợc mọi ngƣời can ngăn nên B bỏ về phòng trọ. Sau đó, vì sợ nhóm của L tiếp tục chặn đánh nên B gọi điện thoại cho anh trai là Đậu Ngọc G đến giúp chuyển đồ sang cơ sở trọ khác. Khi thấy ông G sang phòng trọ của B, Lam nghĩ B gọi ngƣời đến đánh mình liền nhặt 01 đoạn gỗ dài khoảng 01 m và lấy 01 con dao tự chế (mã tấu) màu đen, dài khoảng 80 cm có sẵn tại phòng trọ mang ra để cạnh thùng rác trƣớc cơ sở trọ và đi đến phòng trọ của B để nói chuyện. Do bực tức vì trƣớc đó bị nhóm bạn của L đánh, B liền dùng tay đánh 01 cái vào mặt L. L1 đi theo phía sau, thấy L bị đánh thì L1 cầm đoạn gỗ mà L để trƣớc cơ sở trọ, đánh vào tay ông G. Lúc này, L liền quay lại lấy con dao tự chế đã chuẩn bị, chém một nhát theo hƣớng từ trên xuống dƣới vào ngƣời B, B đƣa tay trái lên đỡ và bỏ chạy. L tiếp tục đuổi theo đến trƣớc cơ sở trọ, thì B té ngã, L tiếp tục chém nhiều nhát trúng vào vùng tay trái, đầu gối và chân của B. Thấy vậy, L1 chạy đến ôm L lại can ngăn không cho L chém B. L bỏ đi, còn B đƣợc đƣa đến Bệnh viện chấn thƣơng chỉnh hình cấp cứu, đến ngày 03/09/2019 thì xuất viện. Sau khi sự việc xảy ra, L bỏ trốn khỏi địa phƣơng. Đến ngày 22/10/2019, Nguyễn Văn L đến Công an thị xã Thuận An (nay là thành phố Thuận An) đầu thú.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số 472/2019/GĐPY ngày 22/10/2019 của Trung tâm pháp y – Sở Y tế tỉnh Bình Dƣơng kết luận: Vết thƣơng mặt trƣớc cổ tay trái 12,5 x 0,2 cm, đứt gần lìa cổ tay, đứt bó mạch thần kinh trụ, đứt bó mạch thần kinh quay, gãy 1/3 dƣới xƣơng trụ trái, đứt gân gấp nông sâu các ngón 1,2,3,4,5 đã phẫu thuật khâu nối, di chứng tổn thƣơng nhánh thần kinh trụ, nhánh thần kinh quay, hạn chế gấp cổ tay trái mức độ nhiều; vết thƣơng gối phải 3,5x0,2 cm, vết thƣơng ngón I bàn chân trái 1x0,1 cm. Tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên cho ông Đậu Ngọc B là 35%.
Cáo trạng số 210/CT-VKS-TA ngày 26/6/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội Cố ý gây thƣơng tích theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định nhƣ bản cáo trạng đã truy tố và xác định: Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chƣa có tiền án tiền sự; về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thƣờng thiệt hại; bị cáo ra đầu thú; bị cáo có cha là ngƣời có công với Nhà nƣớc.
Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L mức án từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo và bị hại tại phiên tòa.
Về xử lý vật chứng: Không yêu cầu xem xét.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội giống nội dung Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo đã ăn năn hối cải nên xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời. Trƣớc đây bị cáo đã bồi thƣờng cho bị hại 15.000.000 đồng, nay bị cáo đồng ý bồi thƣờng cho bị hại thêm số tiền 85.000.000 đồng.
Bị hại Đậu Ngọc B trình bày nội dung sự việc nhƣ bản cáo trạng đã truy tố, sau khi sự việc xảy ra ông B đƣợc đƣa đi cấp cứu, điều trị thƣơng tích tại bệnh viện Chấn thƣơng chỉnh hình thì bị cáo có bồi thƣờng 15.000.000 đồng, nay yêu cầu bị cáo bồi thƣờng thêm số tiền 85.000.000 đồng.
Ngƣời làm chứng Nguyễn Văn L1 trình bày: Ông L1 là em bị cáo L. Khi bị cáo chém bị hại thì ông L1 có chứng kiến và can ngăn không cho bị cáo chém bị hại. Trƣớc đó ông L1 có dùng khúc cây bằng gỗ đánh ông Gi vào tay vì tƣởng G qua đánh L1 nhƣng không gây thƣơng tích cho ông G. Ông L1 không bàn bạc với bị cáo để đánh bị hại và cũng không gây thƣơng tích cho bị hại.
Ngƣời làm chứng Đậu Ngọc G trình bày: Ông G là anh ruột bị hại B, trƣớc khi xảy ra sự việc thì ông G có nghe mâu thuẫn giữa B và L nên đến nhà trọ của B phụ B dọn phòng thì có bị L1 dung cây đánh vào tay nhƣng không gây thƣơng tích và có thấy L chém B nên đƣa B đi cấp cứu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những ngƣời tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn L đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các tình tiết nhƣ nội dung bản cáo trạng đã truy tố, phù hợp với lời khai của bị hại, ngƣời làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm, quá trình thực hiện hành vi phạm tội.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định: Vào 20 giờ 00 phút ngày 25/8/2019, tại địa chỉ 30C/50F khu phố Bình Đức 2, phƣờng Bình Hòa, thị xã Thuận An (nay là thành phố Thuận An), tỉnh Bình Dƣơng, bị cáo Nguyễn Văn L đã thực hiện hành vi dùng con dao tự chế (mã tấu) là hung khí nguy hiểm gây thƣơng tích cho bị hại Đậu Ngọc B. Tại bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số 472/2019/GĐPY ngày 22/10/2019 của Trung tâm pháp y – Sở Y tế tỉnh Bình Dƣơng kết luận: Tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên cho ông Đậu Ngọc B là 35%. Hành vi của bị cáo đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thƣơng tích, tội phạm và hình phạt quy định điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo về tội Cố ý gây thƣơng tích theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật. Mức đề nghị hình phạt của Kiểm sát viên đối với bị cáo là phù hợp với hành vi của bị cáo đã thực hiện.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm về sức khỏe của ngƣời khác một cách trái pháp luật, làm ảnh hƣởng an ninh trật tự xã hội tại địa phƣơng. Bị cáo nhận thức rõ hành vi dùng dao tự chế (mã tấu) là hung khí nguy hiểm gây thƣơng tích cho bị hại là vi phạm pháp luật và sẽ bị trừng trị, nhƣng vì xích mích mâu thuẫn do bị hại đánh bị cáo nên bị cáo cố ý phạm tội, sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, vì vậy cần xét xử và áp dụng mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất, mức độ, hậu quả phạm tội đã thực hiện có xem xét đến tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn và nhân thân của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã bồi thƣờng thiệt hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo ra đầu thú; bị cáo có cha đƣợc tặng thƣởng Huân chƣơng chiến sĩ vẻ vang; việc phạm tội do một phần lỗi của bị hại nên đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thƣờng thiệt hại 15.000.000 đồng cho bị hại. Tại phiên tòa, bị cáo và bị hại thống nhất thỏa thuận bị cáo bồi thƣờng thêm cho bị hại số tiền 85.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 con dao tự chế (mã tấu) màu đen, dài khoảng 80 cm, sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo L đã vứt bỏ hiện không thu hồi đƣợc nên không đặt ra xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Đối với hành vi của Nguyễn Văn L1 có cầm đoạn gỗ mà L để trƣớc cơ sở trọ, đánh vào tay ông Đậu Ngọc G nhƣng không gây thƣơng tích. L1 cũng không bàn bạc với L trong việc gây thƣơng tích cho bị hại, khi bị cáo chém bị hại thì L1 can ngăn nên Cơ quan điều tra không xử lý hành vi của Nguyễn Văn L1 là phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm c khoản 3 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
- Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Điều 590 Bộ luật Dân sự;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội Cố ý gây thƣơng tích.
Xử phạt Nguyễn Văn L 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/11/2019.
2. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn L phải bồi thƣờng cho bị hại Đậu Ngọc B số tiền 85.000.000 đồng (tám lăm triệu đồng).
Kể từ ngày ngƣời đƣợc thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu ngƣời phải thi hành án không thanh toán số tiền trên cho ngƣời đƣợc thi hành án thì hàng tháng ngƣời phải thi hành án thì còn phải trả cho ngƣời đƣợc thi hành án số tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tƣơng ứng với thời hạn và số tiền chậm trả.
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 4.250.000 đồng (bốn triệu hai trăm năm mƣơi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bản án này đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.\.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thành phố Thuận An; - VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - Chi cục THA thành phố Thuận An; - CQCSĐT Công an thành phố Thuận An; - Cơ quan THAHS Công an thành phố Thuận An; - Bị cáo; - Bị hại; - Lƣu: HS, THAHS, AV. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Sỹ Trứ |