- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phùng Quang H phạm “Tội trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 91 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯ Bản án số: 216/2018/HS-ST Ngày: 05/9/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC, TP.HCM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tôn Trung Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Lượng
2. Bà Nguyễn Thị Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền Lương – Thư ký
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức tham gia phiên tòa:
Bà Đặng Thị Thu Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 188/2018/TLST-HS ngày 06/8/2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 198/2018/QĐXXST-HS ngày 15/8/2018, đối với bị cáo:
Phùng Quang H (tên gọi khác Po); sinh ngày: 16/8/2000; tại: Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: 9/7 đường x, Khu phố y, phường T, Quận z, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Sinh viên; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phùng Quang N; và bà: Nguyễn Thị T; chưa có vợ con; tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt, tạm giam ngày 27/5/2018, đến ngày 02/6/2018 thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)
- Bị hại: anh Nguyễn Chí T, sinh ngày 01/01/2000, địa chỉ: 510 đường H, khu phố x, phường L, quận z, Thành phố Hồ Chí Minh. (Xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[1] Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 03/5/2018, Phùng Quang H thuê xe Grab Bike chở đến tiệm Internet G tại số 56 đường D, khu phố x, phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh chơi điện tử. Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, H phát hiện bàn bên cạnh của anh Nguyễn Chí T (sinh ngày 01/01/2000) có để quên 01 chùm chìa khóa xe mô tô và 01 thẻ giữ xe. Khoảng 15 phút sau, không thấy ai đến nhận chìa khóa nên H nảy sinh ý đinh lấy trộm xe mô tô trên làm phương tiện đi lại. H lấy chìa khóa xe mô tô và thẻ giữ xe đi ra bãi giữ xe nhưng do không biết biển số xe nên H bấm remote trên chìa khóa xe thì xe mô tô hiệu Air Blade biển số 59X1-399.97 trong bãi kêu “bíp, bíp”. H đi lại lấy xe mô tô trên chạy ra đưa thẻ giữ xe cho nhân viên và chạy xe mô tô về nhà cất giấu. Sau đó, H sử dụng làm phương tiện đi lại. Đến 20 giờ ngày 26/5/2018, H điều khiển xe mô tô trên đi dự sinh nhật của bạn ở quán ăn B khi ra về thì bị anh T phát hiện và chạy theo H về đến nhà số 9/7, đường x, khu phố y, phường T, Quận z, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, anh T đến Công an phường B trình báo sự việc và Công an phường B đến nhà đưa H cùng xe mô tô trên về Công an phường lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra xử lý. Ngày 27/5/2018, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận T ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp.
Kết luận định giá tài sản số 1161 ngày 04/6/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Thủ Đức kết luận: xe mô tô hiệu Honda Airblade, biển số 59X1-399.97, số khung: RLHJF4606DY406146, số máy: JF46E-0093067 trị giá 25.000.000 đồng.
Tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận T, Phùng Quang H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Vật chứng vụ án: 01 xe mô tô hiệu Honda Air Blade biển số 59X1-399.97, số khung: RLHJF4606DY406146, số máy: JF46E-0093067, do ông Nguyễn Quốc T mua tháng 11/2013 và đứng tên chủ sở hữu. Ổng T mua xong giao xe cho con trai là Nguyễn Chí T làm phương tiện đi học, đến ngày 03/5/2018 bị H lấy trộm xe. Ngày 01/6/2018, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận T ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô trên cho ông Nguyễn Quốc T là chủ sở hữu.
Trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Chí T không yêu cầu bồi thường gì
Tại phiên tòa, bị cáo Phùng Quang H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố
[2] Bản Cáo trạng số 203/CT-VKS-TĐ ngày 03/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức truy tố bị cáo Phùng Quang H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” và áp dụng khoản 1 của Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, cùng các tình tiết giảm nhẹ khi phạm tội bị cáo chưa thành niên, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản đã thu hồi, phạm tội gây thiệt hại không lớn, được bị hại bãi nại, để xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo, phần dân sự đã giải quyết xong.
Bị cáo H không tranh luận hoặc bào chữa gì.
Bị cáo H nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử tạo điều kiện cho bị cáo được sửa sai, tiếp tục việc học.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thủ Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, luật sư và bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo Phùng Quang H phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, vật chứng và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được, có căn cứ xác định bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại anh Nguyễn Chí T. Tài sản chiếm đoạt là xe mô tô hiệu Honda Airblade, biển số 59X1-399.97, trị giá 25.000.000 đồng. Như vậy, có đủ cơ sở pháp lý kết luận bị cáo Phùng Quang H đã phạm “Tội trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định, trừng trị tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Vì động cơ vụ lợi, bị cáo đã cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội thể hiện bị cáo rất liều lĩnh và xem thường pháp luật. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với hình phạt nghiêm, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cần xem xét cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản chiếm đoạt đã thu hồi, phạm tội gây thiệt hại không lớn, bị hại xin xem xét cho bị cáo, đặc biệt khi phạm tội bị cáo ở độ tuổi 17 tuổi 08 tháng 17 ngày, là người chưa thành niên phạm tội, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 4, 6 Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015, nên giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Xét thấy bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, nhân thân của bị cáo tốt, là người chưa thành niên phạm tội, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu, đang là sinh viên của Trường Cao đẳng kinh tế - kỹ thuật Thủ Đức. Chiếu theo chính sách khoan hồng nhân đạo của pháp luật, cho bị cáo được hưởng án treo, tạo điều kiện cho bị cáo tiếp tục việc học cũng đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo và nêu gương phòng ngừa chung.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Chí T đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì. Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Phùng Quang H phạm “Tội trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 4, 6 Điều 91, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015;
Xử phạt bị cáo Phùng Quang H 06 (Sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (Một) năm tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Phùng Quang H cho Ủy ban nhân dân phường T, Quận z, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Phùng Quang H chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án. Riêng bị hại vắng mặt, thời gian kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
(Đã giải thích chế định án treo).
| Nơi nhận: - Bị cáo, Bị hại; - VKSND, CA, Chi cục THA Q.TĐ; - PC27; - VKSND Tp.HCM; - Sở Tư pháp Tp.HCM; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tôn Trung Tuấn |