- Tranh chấp gì? "NGUYỄN HỮU C và đồng bọn - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 133 Bộ luật Hình sự; Điều 191 Bộ luật Tố tụng hình sự
| Tßa ¸n nh©n d©n QuËn ThA xu©n Thµnh phè Hµ Néi ------------------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B¶n ¸n sè: 215/2017/ HSST Ngµy: 29/12/2017 |
Nh©n dA
N íc céng hßa x· héi chñ nghÜa ViÖt Nam
Tßa ¸n nh©n d©n QuËn ThANH Xu©n
Víi thµnh phÇn Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã:
- Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Phƣơng T
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hồng
Ông Đỗ Quang Linh
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Hà Phƣơng Ánh Nguyệt-Cán bộ Tòa án nhân dân quận ThA Xuân, thành phố Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận ThA Xuân, thành phố Hà Nội: Bà
Nguyễn Bích Thủy- Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 29 tháng 12 năm 2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận ThA Xuân, thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân quận ThA Xuân, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 200/2017/HSST ngày 20.11.2017 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: NGUYỄN HỮU C, sinh năm 1989;
Nơi đăng ký hộ khẩu thƣờng trú: số 13C tổ 1, phƣờng H, quận H, thành phố Hà Nội.
Chỗ ở: số 13C tổ 1, phƣờng H, quận H, thành phố Hà Nội.
Nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 12/12.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
Con ông Nguyễn Hữu T; con bà Đỗ Thị L.
* Tiền án, tiền sự: Không.
Tạm giữ ngày 15.6.2017; tạm giam ngày 21.6.2017.
Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại giam số 1- Công an thành phố Hà Nội.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: NGUYỄN THA H, sinh năm 1993;
Nơi đăng ký hộ khẩu thƣờng trú: Khối 18, phƣờng H, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
Chỗ ở: Khối 18, phƣờng H, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
Nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 7/12.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
Con ông Nguyễn Hữu Đức; con bà Nguyễn Thị Phúc.
* Nhân thân:
- Ngày 08.6.2011, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 21 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Ngày 23.6.2011, Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu xử phạt 20 tháng tù về tội “Cƣớp tài sản”. Ra trại ngày 30.8.2013. Nộp án phí hình sự sơ thẩm ngày 26.12.2011. Chấp hành án cùng với hình phạt 21 tháng tù của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, ra trại ngày 30.8.2013.
Hiện đã đƣợc xóa án tích.
Tạm giữ ngày 15.6.2017; tạm giam ngày 21.6.2017.
Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại giam số 1- Công an thành phố Hà Nội.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
3. Họ và tên: VƢƠNG HOÀNG A, sinh năm 1989;
Nơi đăng ký hộ khẩu thƣờng trú: số 22ª Chùa Liên Phái, phƣờng C, quận H, thành phố Hà Nội.
Chỗ ở: số 8M3, tập thể M, phƣờng B, quận H, thành phố Hà Nội.
Nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 12/12.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
Con ông Vƣơng Bá C (đã chết); con bà Hoàng Thị Kim T.
* Tiền án, tiền sự: Không.
Tạm giữ ngày 15.6.2017; tạm giam ngày 21.6.2017.
Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại giam số 1- Công an thành phố Hà Nội
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
4. Họ và tên: TRẦN SỸ T sinh năm 1992;
Nơi đăng ký hộ khẩu thƣờng trú: số 1 lô 4 Trại Găng, phƣờng T, quận H, thành phố Hà Nội.
Chỗ ở: số 1 hẻm 12/15/299 tổ 45B, phƣờng H, quận H, thành phố Hà Nội.
Nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 9/12.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
Con ông Trần Sỹ Trúc (đã chết); con bà Nguyễn Thị Nhàn.
* Tiền án, tiền sự: Không.
Tạm giữ ngày 15.6.2017; tạm giam ngày 21.6.2017.
Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại giam số 1- Công an thành phố Hà Nội.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
5. Họ và tên: NGUYỄN VĂN L, sinh năm 1991;
Nơi đăng ký hộ khẩu thƣờng trú: xóm M, xã H, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
Chỗ ở: xóm M, xã H, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
Nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 12/12.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
Con ông Nguyễn A Đào; con bà Nguyễn Thị Ngân Hà.
* Tiền án, tiền sự: Không.
Tạm giữ ngày 15.6.2017; tạm giam ngày 21.6.2017.
Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại giam số 1- Công an thành phố Hà Nội
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Chị Trần Thị T, sinh năm 1967
Nơi đăng ký hộ khẩu thƣờng trú: tổ 7, khu 7, phƣờng N, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh (vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, trA luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
a) Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Nguyễn Hữu C, Trần Sỹ T Vƣơng Hoàng A, Nguyễn ThAH, Nguyễn Văn L là nhân viên của cửa hàng cho vay tài chính dƣới hình thức “bốc họ” do A Vƣơng Lý Ánh Hồng làm chủ, địa chỉ: Phòng 101 nhà 11 ngõ 41 đƣờng Trƣờng Chinh, phƣờng Phƣơng Liệt, quận ThA Xuân, thành phố Hà Nội. Ngày 01.6.2017, chị Trần Thị T có đến cửa hàng để vay tiền. C là ngƣời đứng ra làm thủ tục cho chị T vay 10.000.000 đồng. C đƣa lại cho chị T 7.600.000 đồng, giữ lại 2.000.000 đồng tiền lãi và 400.000 đồng tiền đóng “họ” của hai ngày đầu. Chị T phải trả cho C mỗi ngày 200.000 đồng trong vòng 50 ngày. Hai ngày 03 và 04.6.2017, chị T đều đóng đủ mỗi ngày 200.000 đồng nhƣng ngày 05 và 06.6.2017, chị T không đến đóng tiền. Đến khoảng hơn 18 giờ ngày 06.6.2017, qua kiểm tra sổ sách Hoàng A thấy chị T chậm đóng “họ” 02 ngày nên đã nhắc với C. Do vậy, C rủ L, TH, Hƣng (hiện chƣa xác định đƣợc đối tƣợng Hƣng) đi đến nhà chị T bằng xe máy để đòi nợ. C sử dụng xe máy nhãn hiệu Piagio LX màu đỏ, biển kiểm soát 29H1-780.41 chở L, Tú sử dụng chiếc xe máy nhãn hiệu Wave bạc (hiện không xác định đƣợc) đèoH, còn Hƣng đi một mình bằng xe máy nhãn hiệu Dream (hiện không xác định đƣợc) đến nhà chị T thuê tại số 2C23 ngõ 240 Tân Mai, quận H, thành phố Hà Nội. Đến nơi thì chị T không có ở nhà nên cả bọn đứng ngoài đợi. Chờ đƣợc một lúc thì Tú đi xe máy về nhà ăn cơm. Khoảng 30 phút sau thì chị T về, C đòi tiền, chị T nói không có nên C yêu cầu chị T về cửa hàng tại phòng 101 nhà 11 ngõ 41 đƣờng Trƣờng Chinh để nói chuyện. Chị T đồng ý. Khi C cùng đồng bọn đƣa chị T về cửa hàng thì cùng lúc đó Tú cũng quay lại cửa hàng. Lúc này, trong cửa hàng có Nguyễn A Tuấn (sinh năm 1990; Hộ khẩu thƣờng trú: 28B- A3 Tân Mai, H, Hà Nội là nhân viên của cửa hàng) đang ngồi ở bàn máy tính đeo tai nghe và chơi điện tử. C, L, TH, Hƣng đƣa chị T vào phòng và C yêu cầu chị T ngồi xuống ghế bên bàn uống nƣớc quay lƣng ra cửa ra vào, C ngồi đối diện với chị T cònH, T L, Hƣng đứng, ngồi xung quA trong phòng. Để tránh mọi ngƣời biết chuyện nên Hƣng kéo cửa cuốn xuống và đóng cửa kính của cửa hàng. Mặc dù chƣa đến kỳ hẹn trả toàn bộ số nợ nhƣng vì C biết đƣợc hiện tại chị T nợ tiền nhiều ngƣời và chị T sắp trả nhà đang ở, do sợ không tìm đƣợc chị T nên C yêu cầu chị T phải trả toàn bộ số tiền còn nợ là 9.200.000 đồng nhƣng chị T không có tiền và xin khất trả sau. Thấy chị T không chịu trả tiền nên C chửi bới, bắt chị T phải trả tiền ngay. Trong lúc đang nói chuyện thì Vƣơng Hoàng A đến cửa hàng, Hƣng mở cửa cho Hoàng A vào trong phòng rồi lại đóng cửa lại. Sau đó Hoàng A ngồi vào ghế ở bàn máy tính, còn Tuấn ra ngồi cạnh C và tiếp tục đeo tai nghe chơi điện tử trên điện thoại. Trong quá trình đòi nợ, chị T nói không có tiền trả nênH, Hƣng, Hoàng A lần lƣợt tát vào mặt chị T mỗi ngƣời một cái, đồng thời chửi bới và bắt chị T trả nợ. Chị T nói không có tiền trả, C bắt chị T gọi điện cho con gái chị T để mang tiền đến trả nhƣng con gái không nghe máy, C giật máy điện thoại của chị T mục đích lấy số điện thoại của con gái chị T (sau đó C trả luôn cho chị T) và sử dụng điện thoại cảu C gọi điện cho con gái chị T bảo mang tiền trả hộ cho chị T nhƣng con gái chị T nói không có tiền. Chị T tiếp tục xin khất nợ nhƣng C không đồng ý. Trƣớc đó, trong lúc đợi chị T về thì C biết chị T có 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Backhand Sunfat màu đen biển kiểm soát 29X3- 8344, số khung: 87261, số máy: 87261 và 02 con chó phốc (trong đó có một con màu vàng và một con màu đen) nên yêu cầu chị T phải đƣa cho chiếc xe máy và 02 con chó trên, khi nào có tiền trả thì đến chuộc lại sau. Do sợ tiếp tục bị đánh nên chị T xin chỉ giao xe máy, còn 02 con chó để lại nuôi nhƣng C không đồng ý. Chị T buộc phải đồng ý giao cả 01 xe máy và 02 con chó phốc cho C. Sau đó, C cùngH, Hƣng, L, Tú ra lấy xe máy để về nhà chị T lấy xe máy và chó. Khi đi ra khỏi cửa hàng, Hƣng túm tóc giật ngƣợc làm chị T ngã ra vỉa hè rồi dùng chân đạp vào mặt chị T. Sau đó, C sử dụng chiếc xe máy nhãn hiệu Piagio LX màu đỏ, biển kiểm soát: 29H1-780.41 chở L, Tú sử dụng chiếc xe máy nhãn hiệu Wave bạc (hiện không xác định đƣợc) đèoH, do xe máy của Hƣng hết xăng nên Hƣng lấy xe máy Honda Wave màu đỏ- đen biển kiểm soát 29V7-5646 của Hoàng A chở chị T về nhà chị T ở số 2C23 ngõ 240 Tân Mai, H, Hà Nội. Khoảng ít phút sau thì Hoàng A đóng cửa hàng và nhờ Tuấn đèo Hoàng A đến nhà chị T để lấy xe máy vì trƣớc đó Hƣng đi xe máy của Hoàng A. Khi Hoàng A và Tuấn đến nơi thì Hoàng A lấy xe máy Honda Wave màu đỏ- đen biển kiểm soát 29V7-5646 từ Hƣng rồi cùng Tuấn đi về luôn. Còn chị T sau khi về đến nhà, mở cửa nhà lấy 01 chiếc lồng sắt bên trong có 02 con chó phốc, giống chó phốc hƣơu (01 con màu vàng cao khoảng 25cm, nặng 4kg và 01 con màu đen cao khoảng 25cm, nặng khoảng 4,5kg) đƣa cho C, C đƣa lại cho L. Tiếp đó chị T đƣa chìa khóa cùng 01 xe máy nhãn hiệu Backhand Sunfat màu đen biển kiểm soát 29X3-8344, số khung: 87261, số máy: 87261 cho Hƣng. C đèo L cầm 01 lồng sắt chứa 02 con chó phốc về cất ở nhà C, còn Hƣng đi xe máy trên về gửi xe máy ở bãi xe trên đƣờng Nguyễn Đức Cảnh, Tƣơng Mai, H, Hà Nội. Đến khoảng 19h 00 phút ngày 07.06.2017, chị T đến cửa hàng tại phòng 101 nhà 11 ngõ 41 đƣờng Trƣờng Chinh, phƣờng Phƣơng Liệt, quận ThA Xuân, thành phố Hà Nội để trả cho C số tiền 7.200.000 đồng, xin 02 con chó và xe máy. C cầm tiền nhƣng yêu cầu chị T phải trả thêm 2.000.000 đồng thì mới cho mang xe máy và chó về. Đến ngày 08.06.2017, chị T đƣa tiếp cho C 2.000.000 đồng để chuộc lại xe máy và chó. C cầm tiền và bảo chị T trả thêm 400.000 đồng tiền trông, mua thức ăn nuôi chó. Chị T thỏa thuận với C chỉ trả 200.000 đồng tiền trông nuôi chó. C đồng ý. Chiều cùng ngày, chị T đƣa thêm cho C 200.000 đồng. C bảo Hƣng đƣa chị T đến bãi gửi xe trên đƣờng Nguyễn Đức Cảnh để lấy xe máy trả cho chị T, còn chó thì hẹn hôm sau đến lấy (vì C để chó ở nhà). Sau khi nhận 9.200.000 đồng của chị T, C đã đƣa lại cho Hoàng A để nộp về cửa hàng, còn C giữ lại 200.000 đồng là tiền thỏa thuận chị T trả trông nuôi 02 con chó. Đến chiều ngày 09.6.2017, C mang 02 con chó đến trả cho chị T ở trƣớc cửa hàng, khi vừa đƣa lồng chó cho chị T thì đối tƣợng Tuân cùng 02 nam thA niên khác (hiện chƣa xác định đƣợc) đến giật lồng chó trong tay chị T. Do tiếp tục bị chiếm đoạt 02 con chó trên, nên chị T đã đến cơ quan công an để trình báo.
Quá trình điều tra truy xét đã làm rõ hành vi phạm tội của Nguyễn Hữu C, Nguyễn ThAH, Trần Sỹ T Nguyễn Văn L và Vƣơng Hoàng A. Ngày 15.6.2017, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận ThA Xuân đã ra lệnh bắt khẩn cấp đối với Nguyễn Hữu C, Nguyễn ThAH, Trần Sỹ T Nguyễn Văn L và Vƣơng Hoàng A về hành vi cƣớp tài sản.
Ngày 19.6.2017, có 02 nam thA niên (hiện không xác định đƣợc) đã mang chiếc lồng sắt trong có 02 con chó phốc (01 con màu vàng và 01 con màu đen) đến nhà trả cho chị Trần Thị T.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 746 ngày 21.7.2017 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự- Ủy ban nhân dân quận T kết luận:
- 01 cá thể chó màu đen (giống chó phốc hươu), cao khoảng 25cm, nặng khoảng 4,5kg, trị giá 2.000.000 đồng.
- 01 cá thể chó màu vàng (giống chó phốc hươu), cao khoảng 25cm, nặng khoảng 4kg, trị giá 1.500.000 đồng.
- 01 xe máy nhãn hiệu Backhand Sunfat màu đen, Biển kiểm soát 29X3-8344, số khung: 87261, số máy: 87261, trị giá 1.500.000 đồng.
Tổng giá trị các tài sản Nguyễn Hữu C, Nguyễn ThAH, Vương Hoàng A, Trần Sỹ T Nguyễn Văn L chiếm đoạt là 5.000.000 đồng.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Hữu C, Nguyễn ThAH, Trần Sỹ T Nguyễn Văn L và Vƣơng Hoàng A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nhƣ đã nêu trên.
b) Về các vấn đề khác của vụ án:
Đối với việc chị Trần Thị T bị Vƣơng Hoàng A, Nguyễn ThAH, Hƣng đánh gây thƣơng tích nhƣng chị T đã từ chối đi giám định thƣơng tích và hiện không yêu cầu, đề nghị gì. Tại cơ quan điều tra, chị T khai: 01 lồng sắt đựng 02 con chó phốc không có giá trị về kinh tế nên không yêu cầu định giá, không yêu cầu bồi thƣờng gì và đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho Nguyễn Hữu C, Vƣơng Hoàng A, Nguyễn ThAH, Trần Sỹ T Nguyễn Văn L.
Đối với A Nguyễn A Tuấn và A Vƣơng Lý Ánh Hồng, quá trình điều tra xác định A Tuấn, A Hồng không tham gia vào hành vi cƣớp tài sản. Về ý thức chủ quan, A Tuấn, A Hồng không biết việc Nguyễn Hữu C, Vƣơng Hoàng A, Nguyễn ThAH, Trần Sỹ T Nguyễn Văn L và đối tƣợng Hƣng có hành vi cƣớp tài sản của chị Trần Thị T. Do vậy, cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với đối tƣợng tên Hƣng, Tuân, quá trình điều tra chƣa xác định đƣợc tên, tuổi, địa chỉ cụ thể. Do vậy, cơ quan điều tra đã quyết định tách hồ sơ tài liệu để điều tra, xử lý sau.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ- đen biển kiểm soát 29V7-5646, qua điều xác định là tài sản hợp pháp của chị Đặng Ngọc Diệp (chị họ Vƣơng Hoàng A). Về ý thức chủ quan, khi cho Hoàng A mƣợn chiếc xe máy trên, không biết Hoàng A sử dụng đi cƣớp tài sản. Do vậy, cơ quan điều tra không thu giữ, không đề cập xử lý.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Piaggio LX màu đỏ, biển kiểm soát: 29H1-780.41, qua điều tra xác định là tài sản hợp pháp của Trần A Dũng (bạn xã hội của Nguyễn Hữu C). Về ý thức chủ quan, khi cho C mƣợn chiếc xe máy trên, không biết C sử dụng đi cƣớp tài sản. Do vậy, cơ quan điều tra không thu giữ, không đề cập xử lý.
Đối với chiếc xe máy Wave màu bạc do Trần Sỹ Tú sử dụng đi đến nhà chị Trần Thị T vào ngày 06.6.2017, do Tú khai mƣợn của một ngƣời bạn xã hội tên Tùng nhƣng không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, không nhớ biển kiểm soát xe, sau khi sự việc xảy ra đã trả xe lại cho Tùng. Do vậy, cơ quan điều tra không có căn cứ để làm rõ.
Tại bản cáo trạng số 183/CT-VKT ngày 08.11.2017, Viện kiểm sát nhân dân quận ThA Xuân, thành phố Hà Nội đã truy tố Nguyễn Hữu C, Trần Sỹ T Vƣơng Hoàng A, Nguyễn ThAH, Nguyễn Văn L về tội “Cƣớp tài sản” theo khoản 1 Điều 133 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay,
Các bị cáo khai: Do chị Trần Thị T chậm trả tiền “họ” cho C nên các bị cáo đã đến nhà chị T, yêu cầu chị T về văn phòng tại địa chỉ: phòng 101 nhà 11 ngõ 41 đƣờng Trƣờng Chinh, phƣờng Phƣơng Liệt, quận ThA Xuân, thành phố Hà Nội để nói chuyện. Tại đây, các bị cáo đã có các hành vi: đóng cửa phòng, chửi bới bắt chị T phải trả tiền cho C, bị cáoH, bị cáo Hoàng A và đối tƣợng Hƣng (chƣa xác định đƣợc cụ thể) lần lƣợt tát vào mặt chị T, buộc chị T phải đồng ý đƣa tài sản là chiếc xe máy Backhand Sunfat màu đen, biển kiểm soát 29X3- 8344, số khung: 87261, số máy 87261 và 02 con chó phốc cho các bị cáo. Các bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét ®Ó cho các bÞ c¸o ® îc h ëng møc ¸n nhÑ nhÊt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận ThA Xuân, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa có quan điểm: giữ nguyên quyết định truy tố Nguyễn Hữu C, Trần Sỹ T Vƣơng Hoàng A, Nguyễn ThAH, Nguyễn Văn L về tội “Cƣớp tài sản” theo khoản 1 Điều 133 của Bộ luật hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 133, khoản 1; Điều 46 khoản 1 điểm p; khoản 2 của Bộ luật hình sự:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu C từ 40 tháng đến 46 tháng tù.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn ThAH từ 40 tháng đến 46 tháng tù;
- Xử phạt bị cáo Vƣơng Hoàng A từ 36 tháng đến 42 tháng tù;
- Xử phạt bị cáo Trần Sỹ Tú từ 36 tháng đến 42 tháng tù;
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 36 tháng đến 42 tháng tù;
- Các bị cáo không có nghề nghiệp, không có nguồn thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 133 Bộ luật hình sự.
C¨n cø vµo c¸c tµi liÖu chøng cø ®· ® îc thÈm tra t¹i phiªn toµ; c¨n cø vµo kÕt qu¶ trA luËn t¹i phiªn toµ, trªn c¬ së xem xÐt ®Çy ®ñ, toµn diÖn c¸c chøng cø, ý kiÕn cña KiÓm s¸t viªn…
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
* Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an quận ThA Xuân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận ThA Xuân, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, ngƣời bị hại và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ngƣời nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Chị Trần Thị T là ngƣời bị hại trong vụ án, đã đƣợc Tòa án gửi Quyết định đƣa vụ án ra xét xử và Giấy báo đến phiên tòa nhƣng vắng mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy, trong quá trình điều tra vụ án, chị Trần Thị T đã nhận lại tài sản bị cƣớp, không có yêu cầu các bị cáo bồi thƣờng, quyền lợi của chị Trần Thị T đã đƣợc đảm bảo, việc vắng mặt không làm ảnh hƣởng đến việc giải quyết vụ án nên căn cứ Điều 191 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vụ án vắng mặt chị Trần Thị T.
* Về tội dA và quyết định hình phạt: Lêi khai nhËn téi cña bÞ c¸o t¹i phiªn toµ h«m nay phï hîp víi tµi liÖu chøng cø cã trong hå s¬ vô ¸n nh : Bản kết luận định giá, lời khai ngƣời bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ngƣời làm chứng... cã ®ñ c¬ së kh¼ng ®Þnh:
Ngày 06.6.2017, Nguyễn Hữu C, Vƣơng Hoàng A, Nguyễn ThAH, Trần Sỹ T Nguyễn Văn L đã có hành vi dùng vũ lực chiếm đoạt tài sản gồm: 01 cá thể chó màu đen (giống chó phốc hƣơu), cao khoảng 25cm, nặng khoảng 4,5kg trị giá 2.000.000 đồng; 01 cá thể chó màu vàng (giống chó phốc hƣơu), cao khoảng 25cm, nặng khoảng 4kg, trị giá 1.500.000 đồng; 01 xe máy nhãn hiệu Backhand Sunfat màu đen, biển kiểm soát 29X3- 8344, số khung: 87261, số máy 87261 trị giá 1.500.000 đồng của chị Trần Thị T tại phòng 101 nhà 11 ngõ 41 đƣờng Trƣờng Chinh, phƣờng Phƣơng Liệt, quận ThA Xuân, thành phố Hà Nội. Tổng giá trị tài sản C,H, Hoàng A, T L cƣớp của chị T là 5.000.000 đồng.
Hành vi của các bị cáo Nguyễn Hữu C, Vƣơng Hoàng A, Nguyễn ThAH, Trần Sỹ T Nguyễn Văn L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cƣớp tài sản”, quy định tại Điều 133 khoản 1 của Bộ luật hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân quận ThA Xuân, thành phố Hà Nội truy tố các bị cáo là đúng ngƣời, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân, xâm phạm sức khỏe của công dân đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an trong xã hội và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Khi phạm tội, các bị cáo đều đã trƣởng thành, nhận thức đƣợc đầy đủ hành vi của mình là trái pháp luật nhƣng vì lợi ích cá nhân vẫn cố ý thực hiện, thể hiện sự coi thƣờng pháp luật của các bị cáo. Do vậy, cần áp dụng một mức hình phạt tƣơng xứng với hành vi phạm tội, nghiêm khắc với các bị cáo, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.
* Về đánh giá vai trò của các bị cáo trong vụ án đồng phạm:
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy cần xem xét vai trò của từng bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội để cá thể hóa hình phạt.
Bị cáo Nguyễn Hữu C là ngƣời trực tiếp cho chị T vay tiền, có quan hệ trực tiếp nhất đến hành vi phạm tội, rủ các bị cáo khác đến nhà chị T và đƣa chị T về phòng 101 nhà 11 ngõ 41 đƣờng Trƣờng Chinh để thực hiện hành vi phạm tội, ngồi đối diện với chị T và chửi bới, trực tiếp yêu cầu chị T giao tài sản, gây áp lực bằng cách buộc chị T gọi điện cho con gái, bản thân cũng giật điện thoại của chị T để lấy số điện thoại trực tiếp gọi điện cho con gái chị T buộc giao tiền, là ngƣời hƣởng lợi tài sản. Do vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm nghiêm khắc nhất với vai trò là ngƣời khởi xƣớng, cầm đầu.
Bị cáo Nguyễn ThAH tham gia với vai trò rất tích cực, trực tiếp tát vào mặt chị T nhằm mục đích buộc chị T sợ mà phải giao tài sản, bản thân bị cáo đã 02 lần bị kết án, mặc dù đã đƣợc xóa án tích nhƣng thể hiện bị cáo có nhân thân xấu, đã đƣợc giáo dục pháp luật nhiều lần nhƣng không lấy đó làm bài học tu dƣỡng bản thân, tiếp tục có hành vi phạm tội. Do đó, cần có mức án rất nghiêm khắc đối với bị cáo mới đảm bảo giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.
Bị cáo Vƣơng Hoàng A, Trần Sỹ T Nguyễn Văn L tiếp nhận ý chí của bị cáo C tham gia với vai trò tích cực, gây áp lực cho chị T để chị T lo sợ phải giao tài sản. Do vậy, ba bị cáo cũng phải chịu một mức hình phạt nghiêm khắc, tƣơng xứng với hành vi phạm tội.
* Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ: tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo Nguyễn Hữu C, Vƣơng Hoàng A, Trần Sỹ T Nguyễn Văn L đều phạm tội lần đầu, ngƣời bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, bản thân ngƣời bị hại cũng vi phạm về nghĩa vụ dân sự là nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội; nên các bị cáo đƣợc hƣởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự. Do đó, cũng giảm một phần hình phạt cho các bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
* Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo bản thân không có công ăn việc làm ổn định, không có thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với cá bị cáo.
* Về bồi thƣờng dân sự: Ngƣời bị hại đã nhận lại tài sản bị mất và không có yêu cầu bị cáo bồi thƣờng.
* Về đánh giá vật chứng, xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra không thu giữ vật chứng gì.
* Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Hữu C, Vƣơng Hoàng A, Nguyễn ThAH, Trần Sỹ T Nguyễn Văn L mỗi ngƣời ph¶i chÞu 200.000 đồng ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm theo quy ®Þnh cña ph¸p luËt.
* Về quyền kháng cáo: bÞ c¸o cã quyÒn kh¸ng c¸o theo quy ®Þnh cña ph¸p luËt.
V× c¸c lÏ trªn;
QuyÕt ®Þnh
1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hữu C, Vƣơng Hoàng A, Nguyễn ThAH, Trần Sỹ T Nguyễn Văn L phạm tội “Cƣớp tài sản”
2- Áp dụng: Điều 99; Điều 231; Điều 234 Bộ luật tố tụng hình sự.
Áp dụng: Điều 133 khoản 1; Điều 46 khoản 1 điểm p, khoản 2 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu C 40 (bốn mƣơi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15.6.2017.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn ThAH 40 (bốn mƣơi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15.6.2017;
- Xử phạt bị cáo Vƣơng Hoàng A 36 (ba mƣơi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15.6.2017;
- Xử phạt bị cáo Trần Sỹ Tú 36 (ba mƣơi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15.6.2017;
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 36 (ba mƣơi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15.6.2017;
3. Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
4. Bồi thƣờng dân sự: Ngƣời bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu giải quyết.
5. Xử lý vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra không thu giữ vật chứng gì.
6. Án phí và quyền kháng cáo:
- Áp dụng: Điều 23; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và dA mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo.
BÞ c¸o Nguyễn Hữu C, Vƣơng Hoàng A, Nguyễn ThAH, Trần Sỹ T Nguyễn Văn L mỗi ngƣời ph¶i chÞu 200.000®ång (Hai tr¨m ngh×n ®ång) ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm vµ cã quyÒn kh¸ng c¸o trong h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n.
Chị Trần Thị T vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày đƣợc tống đạt hợp lệ bản án.
¸n xö c«ng khai s¬ thÈm. N¬i nhËn:
Tm. héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm
- TAND Thµnh phè Hµ Néi;
ThÈm ph¸n - chñ to¹ phiªn toµ
- VKSND quËn ThA Xu©n;
- CA QuËn ThA Xu©n;
- THADS quËn ThA Xu©n ;
- BÞ c¸o; L u hå s¬.
PHƢƠNG T
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM NHÂN DÂN
| THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | HỘI THẨM NHÂN DÂN |