- Tranh chấp gì? "TRẦN HOÀNG QUÂN - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: ị c o Trần Hoàng Q (Tên gọi kh c O nh) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Dân sự; Bộ luật Hình sự
| QUẬN NINH I U THÀNH PHỐ CT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| n n s : 215/2020/HS-ST Ngày: 18/12/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NK THÀNH PHỐ CT
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ T
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đỗ Thị Lệ H
2. Bà Hồ Thị im L
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Võ An T – Thư ký Tòa án nhân dân quận NK, thành ph CT.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận NK tham gia phiên tòa: Ông Bùi Hữu H – Kiểm s t viên.
Ngày 18 tháng 12 năm 2020 tại trụ sở Toà n nhân dân quận NK xét xử sơ thẩm công khai vụ n hình sự sơ thẩm thụ lý s : 221/2020/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ n ra xét xử s 800/2020/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2020, đ i với bị c o:
Trần Hoàng Q (Tên gọi kh c: O) (Có mặt)
Giới tính: Nam
Sinh năm 1988
Nơi sinh: CT.
Nghề nghiệp: Làm tóc.
Trình độ học vấn: 6/12.
Đăng ký thường trú: Ấp Đông Phú A, xã Đông Phước, huyện Châu Thành, Hậu Giang.
Qu c tịch: Việt Nam;
Dân tộc: Kinh;
Tôn gi o: Không;
Họ và tên cha: Trần Ngọc T (chết);
Họ và tên mẹ: Đặng Thị H, sinh năm 1966 (s ng);
ị c o chưa có vợ, con;
- Tiền n: 04 lần
+ Lần 1: Ngày 26/9/2005 bị Tòa n nhân dân thành ph CT xử phạt 02 năm tù về tội cướp giật tài s n, chưa thi hành hình phạt bổ sung, chưa xóa n tích.
+ Lần 2: Ngày 12/12/2008 bị Tòa n nhân dân huyện CT, tỉnh HG xử phạt 15 th ng tù về tội trộm cắp tài s n, chưa xóa n tích.
+ Lần 3: Ngày 30/11/2010 bị Tòa n nhân dân tỉnh Hậu Giang xử phạt 04 năm tù về tội trộm cắp tài s n, chưa xóa n tích.
+ Lần 4: Ngày 30/4/2016 bị Tòa n nhân dân huyện Th ng Nhất, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 năm tù về tội trộm cắp tài s n, ngày 14/01/2019 chấp hành xong hình phạt tù, chưa xóa n tích.
- Tiền sự: không.
ị c o bị tạm giữ từ ngày 12/8/2020. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận NK.
Bị hại: Đặng Quốc A sinh năm 1998 (Vắng mặt) Địa chỉ: 220, khu vực Yên Trung, P. Lê Bình, Q. NK, TP. CT.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Trần Văn Tuấn T sinh năm 1984 (Vắng mặt) Địa chỉ: 76, Xô Viết Nghệ Tĩnh, P. An Cư, Q. NK, TP. CT.
Nguyễn Văn T sinh năm 1991 (Vắng mặt) Địa chỉ: Ấp Mỹ Lộc, xã Mỹ Kh nh, huyện Phong Điền, TP. CT.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Trần Hoàng T sinh năm 1992 (Có mặt) Địa chỉ: 373, Nguyễn Văn Cừ, P. An Hòa, Q. NK, TP. CT.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào kho ng 05 giờ 00 phút ngày 09/8/2020 Trần Hoàng Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo, màu vàng đen biển s 52T6-5012 chở theo người tên Toàn chưa rõ lai lịch đến qu n cà phê REX đường Nguyễn Văn Linh, phường H Lợi, quận NK, TP. CT để u ng nước. Khi đến qu n thì thấy anh Đặng Qu c A nhân viên của qu n đang nằm ngủ trên ghế salon bên quầy pha chế, phía trên quầy có để điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax đang sạc pin. Quan s t thấy không có ai trong quán, Toàn kêu Q đi vào qu n lấy trộm điện thoại, còn Toàn ở ngoài xe c nh giới. Q đi vào qu n dùng tay ph i th o dây sạc pin điện thoại rồi nhanh chóng ra xe cùng T tẩu tho t. Sau khi lấy điện thoại c hai đem đến Cửa hàng điện thoại Thanh Vy – Địa chỉ: 76, Xô Viết Nghệ Tĩnh, P. Tân An b n được 5.200.000 đồng. Sau đó đến Nhà nghỉ Tường Vy tại huyện Châu Thành A, Hậu Giang thuê phòng. Tại đây, Toàn đưa cho Q 1.000.000 đồng. Ngày 09/8/2020 anh Đặng Qu c A đã đến Công an phường H Lợi trình b o. Sau khi xem lại camera an ninh của qu n REX thì Cơ quan công an mời Q về làm việc.
Tang vật thu giữ: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu xanh s imei 1: 353907104342695; imei 2: 353907104269369, xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo, màu vàng đen biển s 52T6-5012, s m y 2 52117266, s khung RLCN2 5206Y117266, đã qua sử dụng.
Tại kết luận định gi tài s n s 764/KL-HĐĐG ngày 11/8/2020 của Hội đồng định gi tài s n trong t tụng hình sự thuộc U ND quận NK, th ng nhất x c định: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu xanh s imei 1: 353907104342695; imei 2: 353907104269369, chất lượng còn lại 90%, gi trị còn lại 20.500.000 đồng.
Trong qu trình điều tra Trần Hoàng Q thừa nhận hành vi phạm tội và khai nhận đã b n điện thoại lấy trộm được cho của hàng Thanh Vy - Địa chỉ: 76, Xô Viết Nghệ Tĩnh, P. Tân An nhưng anh Trần Văn Tuấn K chủ cửa hàng cho biết không có thu mua điện thoại Iphone vào ngày 09/8/2020. Qua x c minh anh Trần Hoàng T chủ cửa hàng Hoàng T – Địa chỉ: 373, Nguyễn Văn Cừ, P. An Hòa, Q. NK có mua điện thoại Iphone 11 Promax màu xanh gi 15.000.000 đồng, sau đó anh T đăng b n điện thoại lên mạng xã hội Zalo thì bị ph t hiện thu giữ.
Đ i với người tên Toàn do Trần Hoàng Q khai chưa rõ lai lịch nên Cơ quan C nh s t điều tra Công an quận NK đang tiến hành x c minh làm rõ.
Đ i với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo, màu vàng đen biển s 52T6-5012, Cơ quan C nh s t điều tra Công an quận NK đã x c minh chủ sở hữu là Nguyễn Thanh Giới – Địa chỉ: Trần H Đạo, P. Phạm Ngũ Lão, Q.1, TP. Hồ Chí Minh không còn cư trú tại địa phương nên Công an quận NK đã thông b o tìm chủ sở hữu theo quy định.
Về tr ch nhiệm dân sự: Anh Trần Hoàng T mua điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax mà Trần Hoàng Q b n, anh không biết đây là tài s n trộm cắp mà có nên không xử lý hình sự, anh T đã nộp lại điện thoại cho Cơ quan điều tra. Anh Trần Hoàng T yêu cầu bị c o Trần Hoàng Q bồi thường s tiền 15.000.000 đồng.
Cơ quan C nh s t điều tra Công an quận NK đã ban hành quyết định xử lý vật chứng tr lại cho bị hại Đặng Qu c A 01 điện thoại Iphone 11 Promax, anh A đã nhận lại tài s n, không có yêu cầu gì.
Tại b n c o trạng s 208/CT-VKSNK ngày 09 tháng 11 năm 2020 Viện kiểm s t nhân dân quận NK, thành ph CT truy t bị c o Trần Hoàng Q về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g kho n 2 Điều 173 ộ luật hình sự.
Tại phiên tòa,
ị c o thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử gi m nhẹ hình phạt cho bị c o sớm về với gia đình.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Hoàng T trình bày: Yêu cầu bị c o bồi thường s tiền 5.200.000 đồng. Sau đó ông T không yêu cầu bị c o bồi thường thiệt hại s tiền 5.200.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:
ị c o là người đã thành niên, đủ năng lực chịu tr ch nhiệm hình sự, ngày 09/8/2020 bị c o đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu xanh có gi trị 20.500.000 đồng của bị hại. ị c o nhận thức được hành vi của bị c o là phạm tội, bị c o thực hiện hành vi với lỗi c ý. Hành vi của bị c o là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài s n người kh c được pháp luật b o vệ.
Nhân thân bị c o: ị c o có 04 tiền n chưa xóa n tích.
Tình tiết gi m nhẹ: Trong qu trình điều tra và tại phiên tòa bị c o thành khẩn khai b o, ăn năn h i c i. Tình tiết tăng nặng tr ch nhiệm hình sự: Không.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g kho n 1 Điều 173; điểm s kho n 1, Điều 51 ộ luật hình sự; Điều 106 ộ luật t tụng hình sự.
Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Hoàng Q (Tên gọi kh c O nh) mức án từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù giam.
Xử lý vật chứng: Ghi nhận Cơ quan C nh s t Điều tra Công an quận NK đã ra quyết định xử lý vật chứng tr lại tài s n cho bị hại.
Đ i với xe mô tô biển s 52T6-5012 đề nghị cơ quan chức năng thông b o tìm kiếm chủ sở hữu theo quy định.
Tr ch nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử gi i quyết theo quy định ph p luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an quận NK, Điều tra viên, Viện kiểm s t nhân dân quận NK, Kiểm s t viên trong qu trình điều tra, truy t đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của ộ luật t tụng hình sự. Qu trình điều tra và tại phiên tòa, bị c o không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành t tụng, người tiến hành t tụng. Do đó, c c hành vi, quyết định t tụng của Cơ quan tiến hành t tụng, người tiến hành t tụng đã thực hiện hợp ph p.
Thủ tục tố tụng: Đ i với bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Đại diện Viện kiểm s t không ý kiến về việc vắng mặt của những người này và đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ n. Xét thấy, Cơ quan điều tra đã tiến hành lấy lời khai và làm rõ c c tình tiết trong vụ n nên việc vắng mặt của họ không nh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ kho n 1 Điều 292 ộ luật t tụng hình sự 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ n.
Về trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, bị c o Q thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung b n cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận NK đã truy t . Lời khai của bị c o được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với lời khai bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập được. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận NK truy t bị cáo tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định điểm g kho n 2 Điều 173 ộ luật hình sự là có căn cứ. Hội đồng xét xử chấp nhận những chứng cứ buộc tội của Viện kiểm s t và đề nghị của Kiểm s t viên về quan điểm gi i quyết vụ n. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Vào ngày 09/8/2020 bị c o Q đã lợi dụng sự sơ hở trong việc qu n lý tài s n của anh A. ị c o đã có hành vi lén lút lấy trộm tài s n là điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax của anh A đang sạc pin để trên quầy pha chế, trong lúc anh A nằm ngủ trên ghế salon tại qu n cà phê REX đường Nguyễn Văn Linh. Hành vi của bị c o đã được camera an ninh của qu n cà phê REX ghi lại và bị c o x c nhận người lấy trộm tài s n là bị c o. ị c o có ý thức chiếm đoạt tài s n bị hại và đã mang điện thoại di động đi b n lấy tiền tiêu xài c nhân. ị c o khai đã b n điện thoại tại cửa hàng Thanh Vy là 5.200.000 đồng nH ông Thanh – chủ cửa hàng Thanh Vy x c nhận không có mua điện thoại Iphone 11 Promax nên chưa đủ căn cứ x c định bị c o đã b n điện thoại gi nêu trên. Căn cứ kết luận định gi tài s n ngày 11/8/2020: Tài s n bị c o lấy trộm có gi trị là 20.500.000 đồng.
Hành vi phạm tội của bị c o là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài s n của người kh c được ph p luật b o vệ. ị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi c ý trực tiếp, bị c o là người đã trưởng thành, bị c o nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Về nhân thân: Tại thời điểm bị c o thực hiện hành vi phạm tội bị c o có 04 tiền n chưa được xóa n tích nH bị c o không tu dưỡng, rèn luyện b n thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi c ý thể hiện ý thức pháp luật kém. Lần phạm tội này của bị c o được x c định với tình tiết định khung là t i phạm nguy hiểm. Hành vi của bị c o Trần Hoàng Q đủ yếu t cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm g kho n 2 Điều 173 ộ luật Hình sự. Do đó, cần một hình phạt thật nghiêm khắc, tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội của bị c o là c ch ly bị c o ra khỏi đời s ng xã hội một thời gian nhất định để có t c dụng c i tạo, gi o dục bị c o. Đồng thời cũng để răn đe, gi o dục và phòng ngừa tội phạm.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong qu trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị c o đã thành khẩn khai b o, ăn năn h i c i nên p dụng tình tiết gi m nhẹ tr ch nhiệm hình sự quy định tại điểm s kho n 1 Điều 51 ộ luật Hình sự. ị c o không có tình tiết tăng nặng tr ch nhiệm hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: ị hại đã nhận lại tài s n bị mất trộm, không yêu cầu bị c o bồi thường, nên không xem xét.
Ông Trần Hoàng T là người mua điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, ông không biết đây là tài s n do phạm tội mà có nên không xử lý hình sự. Ông T đã nộp lại điện thoại di động cho Cơ quan điều tra. Trong qu trình điều tra ông T yêu cầu bị c o bồi thường s tiền 15.000.000 đồng. Tại phiên tòa ông T yêu cầu bị c o bồi thường s tiền 5.200.000 đồng. Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu bồi thường thiệt hại của ông T là biên b n giao tài s n cho Cơ quan điều tra. Xét thấy: Ông T đã mua điện thoại nhưng ông T không có làm giấy tờ mua b n, ông T cũng không biết người b n điện thoại cho ông tên họ và có địa chỉ ở đâu. Tại phiên tòa ông T x c nhận bị c o không ph i là người đã b n điện thoại cho ông, bị c o x c nhận bị c o không có b n điện thoại cho ông T. ị c o đã b n điện thoại ngày 09/8/2020 tại cửa hàng Thanh Vy. Ông T x c định đã mua điện thoại vào ngày 10/8/2020 của người kh c. Ông T xin rút lại yêu cầu buộc bị c o bồi thường thiệt hại s tiền 5.200.000 đồng của ông Trần Hoàng T.
Về xử lý vật chứng: Th ng nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm s t.
Ghi nhận Cơ quan C nh s t Điều tra Công an quận NK đã ra quyết định xử lý vật chứng s 92 ngày 12/8/2020 tr lại tài s n cho ông Đặng Qu c A 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu xanh, dung lượng 64Gb, imei 1: 353907104342695; imei 2: 353907104269369. Bị hại x c nhận đã nhận lại tài s n.
Đ i với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo, màu vàng đen biển s 52T6-5012, Cơ quan C nh s t điều tra Công an quận NK đã x c minh chủ sở hữu là Nguyễn Thanh Giới – Địa chỉ: Trần H Đạo, P. Phạm Ngũ Lão, Q.1, TP. Hồ Chí Minh không còn cư trú tại địa phương. Căn cứ Điều 228 ộ luật dân sự năm 2015: Giao cho Cơ quan có thẩm quyền thực hiện thông b o tìm kiếm chủ sở hữu hoặc người qu n lý hợp ph p đ i với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo, màu vàng đen biển s 52T6-5012, s m y 2 52117266, s khung RLCN2 5206Y117266, đã qua sử dụng. Trong thời hạn 01 năm kể từ ngày thông b o mà chủ sở hữu hoặc người qu n lý hợp ph p tài s n là vật chứng có yêu cầu thì sẽ được gi i quyết và nhận lại tài s n tại Chi cục Thi hành n dân sự quận NK. Trường hợp có ph t sinh tranh chấp sẽ xem xét gi i quyết theo thủ tục t tụng dân sự; hết thời này, tài s n sẽ được sung quỹ Nhà nước.
Về án phí: ị c o ph i chịu n phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại kho n 2 Điều 136 ộ luật t tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết s 326/2016/U TVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Qu c hội quy định về n phí, lệ phí Tòa n.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: ị c o Trần Hoàng Q (Tên gọi kh c O nh) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ điểm g kho n 2 Điều 173; điểm s kho n 1 Điều 51, Điều 38 ộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Căn cứ Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật t tụng hình sự năm 2015.
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Qu c hội.
Xử phạt: ị c o Trần Hoàng Q 03 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/8/2020.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 ộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017; Điều 106 ộ luật t tụng hình sự năm 2015; Điều 228 ộ luật dân sự năm 2015;
Ghi nhận Cơ quan C nh s t Điều tra Công an quận NK đã ra quyết định xử lý vật chứng s 92 ngày 12/8/2020 tr lại tài s n cho ông Đặng Qu c A.
Giao cho Cơ quan có thẩm quyền thực hiện thông b o tìm kiếm chủ sở hữu hoặc người qu n lý hợp pháp đ i với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo, màu vàng đen biển s 52T6-5012, s m y 2 52117266, s khung RLCN2 5206Y117266, đã qua sử dụng. Trong thời hạn 01 năm kể từ ngày thông b o mà chủ sở hữu hoặc người qu n lý hợp ph p tài s n là vật chứng có yêu cầu thì sẽ được gi i quyết và nhận lại tài s n tại Chi cục Thi hành n dân sự quận NK. Trường hợp có ph t sinh tranh chấp sẽ xem xét gi i quyết theo thủ tục t tụng dân sự; hết thời này, tài s n sẽ được sung quỹ Nhà nước.
(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11/11/2020 giữa Công an quận NK và Chi cục Thi hành dân sự NK).
3. Về án phí và quyền kháng cáo:
ị c o Trần Hoàng Q ph i chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 750.000 đồng n phí dân sự sơ thẩm.
ị c o, đương sự có quyền kh ng c o b n n trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt thì thời hạn kh ng c o 15 ngày tính từ ngày nhận được b n n hoặc b n n được niêm yết theo quy định của ph p luật.
| Nơi nhận: - TAND TP. CT; - VKSND Q. NK; - Công an Q. NK; - Chi cục THADS Q. NK; - Sở Tư ph p TP. CT; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ n; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ T |