vanban.org

Bản án 215/2025/HSST — Hình sự

TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 07/05/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30

tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. * Tuyên bố: Các bị cáo Hoàng ĐL, Bùi NT phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HĐL và đồng phạm MBTPCMT - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THANH HÓA
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 215/2025/HSST
Ngày: 07/5/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Xuân Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Loan; Ông Đỗ Khắc Kiếm.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 209/2025/HSST, ngày 11 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 222/2025/QĐXXST - HS, ngày 23 tháng 4 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Hoàng ĐL - sinh năm 1974. Giới tính: Nam. Căn cước công dân số: 038074019664. Nơi đăng ký NKTT: KĐ 2, phường ĐV, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Nơi ở hiện nay: Số nhà 30/221 QT, tổ dân phố QT 1, phường ĐV, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 8/12. Con ông Hoàng Đình Thắm (đã chết) và bà Lê Thị Thiết. Vợ: Cao Thị Hương - sinh năm 1977. Bị cáo có 03 con, lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 2016. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/11/2024, chuyển tạm giam ngày 10/11/2024 đến nay, tại Phân trại tạm giam khu vực huyện Triệu Sơn - Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa, (có mặt).

2. Họ và tên: Bùi NT - sinh năm 1971. Giới tính: Nam. Căn cước công dân số: 038071028411. Nơi cư trú: Thôn KB, xã QY, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 10/12. Con ông Bùi Ngọc Khanh (đã chết) và bà Bùi Thị Tuyền (đã chết). Vợ: Phạm Thị Hòa – sinh năm 1972 (đã ly hôn). Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 1998. Tiền án: Không. Tiền sự: Ngày 03/4/2024, bị Công an huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/11/2024, chuyển tạm giam ngày 10/11/2024 đến nay, tại Phân trại tạm giam khu vực huyện Triệu Sơn - Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa, (có mặt).

* Người làm chứng: Anh Lê TD - sinh năm 1989. Nơi cư trú: Thôn 1, xã DQ, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa, (vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Bùi NT - sinh năm 1994. Nơi cư trú: Thôn KB, xã QY, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa, (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 01/11/2024, Tổ Công tác Công an huyện Triệu Sơn làm nhiệm vụ tại khu vực tổ dân phố Giắt, thị trấn Triệu Sơn, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa phát hiện Lê TD, sinh năm 1989 có biểu hiện nghi vấn đang sử dụng trái phép chất ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra thì Dương khai nhận là đang sử dụng ma túy loại Heroine. Tổ công tác lập biên bản vụ việc, thu giữ tang vật và đưa đối tượng về trụ sở để xác minh làm rõ, đồng thời thu giữ vật chứng gồm: 01 (một) mảnh giấy bạc có chất bám dính màu đen thu giữ ở bàn tay trái của Lê TD; 01 (một) bật lửa màu vàng thu giữ ở bàn tay phải của Lê TD.

Mở rộng điều tra, xác định: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 09 giờ 30 phút ngày 30/10/2024, Lê TD sử dụng điện thoại gọi cho Bùi NT để hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy loại Heroine. Nên Thược đã sử dụng điện thoại gọi cho Hoàng ĐL hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy loại Heroine thì Lợi đồng ý bán. Sau đó, Thược gọi lại cho Dương nói đồng ý bán ma túy cho Dương và hẹn gặp ở khu vực đèn xanh, đèn đỏ giao nhau giữa đường tránh phía Tây thành phố Thanh Hóa và Quốc lộ 45 thuộc phường Quảng Thịnh, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Lê TD điều khiển xe mô tô đi một mình từ nhà đến khu vực đã hẹn với Thược. Còn Thược cũng điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, Biển kiểm soát 36B8-558.49 đi đến khu vực đã hẹn với Dương.

Khi gặp nhau, Thược yêu cầu ngoài 1.000.000 đồng tiền mua ma túy thì Dương phải đưa thêm 200.000 đồng. Dương đồng ý, đưa cho Thược số tiền 1.200.000 đồng, Thược cầm tiền rồi điều khiển xe mô tô đi đến nhà Hoàng ĐL ở số nhà 30/221 QT, phường ĐV, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Đến nơi Thược đi vào nhà gặp Lợi và đưa cho Lợi 1.000.000 đồng, Lợi cầm tiền rồi đi vào tủ bếp lấy 01 gói giấy bên trong chứa chất rắn màu trắng là ma túy Heroine đưa cho Thược. Thược cầm ma túy đi ra nhà hoang gần nhà Lợi, lấy ra một phần ma túy để sử dụng, phần còn lại Thược chia làm hai phần bằng nhau và gói lại. Sau đó, Thược đi ra ngã tư đèn xanh đèn đỏ ở phường Quảng Thịnh, thành phố Thanh Hóa gặp Dương và đưa cho Dương một gói ma túy, Dương cầm và đi về nhà. Đối với gói ma túy còn lại Thược cất trong túi áo để nếu có ai hỏi mua thì bán. Số tiền 200.000 đồng có được từ việc bán ma túy cho Dương thì Thược đã tiêu xài cá nhân hết. Số tiền 1.000.000 đồng có được từ việc bán ma túy cho Thược thì Lợi đã tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 01/11/2024, khi biết Lê TD bị Công an kiểm tra về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy thì Bùi NT đã đến Công an huyện Triệu Sơn để đầu thú, giao nộp số ma túy còn lại và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5 màu xanh; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đen, Biển kiểm soát 36B8-558.49. Sau đó, Hoàng ĐL cũng đã đến Công an huyện Triệu Sơn đầu thú và khai nhận về hành vi mua bán trái phép chất ma túy của mình cho Bùi NT.

Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an huyện Triệu Sơn tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Bùi NT tại thôn KB, xã QY, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa, không phát hiện, không thu giữ gì.

Cơ quan CSĐT Công an huyện Triệu Sơn tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hoàng ĐL tại số nhà 30/221 QT, tổ dân phố QT 1, phường ĐV, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, phát hiện, thu giữ các đồ vật sau: 02 gói giấy nhiều màu sắc bên trong đều chứa chất rắn màu trắng nghi là ma túy, thu giữ trên tủ để bát ở trên bếp; 01 gói giấy nhiều màu sắc bên trong chứa chất rắn màu trắng nghi là ma túy, thu giữ ở đầu giường phòng ngủ tầng một; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMax màu đen, đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11 màu xanh, đã qua sử dụng, thu giữ trên bàn uống nước tại phòng khách.

Quá trình điều tra, Hoàng ĐL khai nhận là ma túy loại Heroine của Hoàng ĐL cất giấu nhằm mục đích để vừa bán vừa sử dụng. Tuy nhiên, không phân biệt gói nào để bán gói nào để sử dụng.

Tại bản Kết luận giám định số 4267/KL-KTHS ngày 08/11/2024, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa xác định:

- Đối với số ma túy thu giữ của Lê TD: Tìm thấy chất ma túy loại Heroine trên mảnh giấy bạc của phong bì niêm phong ký hiệu D1 gửi giám định. Không xác định được khối lượng chất ma túy bám dính.

- Đối với số ma túy thu giữ của Bùi NT: Chất rắn màu trắng của phong bì gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,306g (không phẩy ba không sáu gam), loại Heroine.

- Đối với số ma túy thu giữ của Hoàng ĐL:

Chất rắn màu trắng của phong bì niêm phong ký hiệu L1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,206g (không phẩy hai không sáu gam), loại Heroine.

Chất rắn màu trắng của phong bì niêm phong ký hiệu L2 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,593g (không phẩy năm chín ba gam), loại Heroine.

Về nguồn gốc số ma túy Hoàng ĐL khai nhận: Số ma túy mà Lợi bán cho Thược và số ma túy Cơ quan điều tra thu giữ khi khám xét nhà Lợi là Lợi mua của Hoàng Thị Bích Ngọc, sinh năm 1989, ở tổ dân phố KĐ 2, phường ĐV, thành phố Thanh Hóa. Vào khoảng 07 giờ ngày 30/10/2024, Hoàng ĐL vào Zalo gọi điện đến Zalo “Quyết Chiến” trước đây của anh Nguyễn Chiến Thắng (đã chết) có vợ là Hoàng Thị Bích Ngọc thì thấy giọng phụ nữ nghe máy nên Lợi cho là chị Ngọc nghe máy. Lợi có hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy loại Heroine thì người này đồng ý và hẹn Lợi đến khu vực Hồ nhà Lê thuộc phường ĐV, thành phố Thanh Hóa để đưa tiền và nhận ma túy. Khi Lợi ra đến nơi thì có nam thanh niên đi xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu xanh, do người nam thanh niên này mặc áo chống nắng và đeo khẩu trang nên Lợi không nhìn rõ mặt. Nam thanh niên đến vị trí Lợi đứng hỏi tên Lợi thì Lợi đưa cho nam thanh niên này 1.000.000 đồng, sau đó nam thanh niên chỉ nơi đặt ma túy cho Lợi ở gốc cây vú sữa cạnh Hồ nhà Lê. Lợi đi đến gốc cây vú sữa thì thấy có 01 gói ni long màu đen, biết đây là gói ma túy do nam thanh niên đặt nên đã nhặt và mang về. Khi về nhà Lợi mở ra thì thấy bên trong gói ni lông có chứa ma túy Heroine.

Cơ quan điều tra đã tiến hành lấy lời khai của chị Hoàng Thị Bích Ngọc, chị Ngọc cho biết, chị chỉ biết Lợi trước đây là bạn bè với chồng chị là anh Nguyễn Chiến Thắng. Trước đây anh Nguyễn Chiến Thắng có sử dụng Zalo tên “Chiến Thắng”, khi anh Thắng chết thì chị Ngọc đã đốt điện thoại của anh Thắng nên chị Ngọc không sử dụng Zalo “Chiến Thắng” của anh Thắng. Không có việc Lợi gọi điện Zalo cho chị Ngọc hỏi mua ma túy và không có việc chị Ngọc bán ma túy cho Hoàng ĐL. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất giữa Hoàng Thị Bích Ngọc và Hoàng ĐL, tuy nhiên không làm rõ được mâu thuẫn trong lời khai của Hoàng Thị Bích Ngọc và Hoàng ĐL. Vì vậy, không xác định được đối tượng bán ma túy cho Lợi, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đen, Biển kiểm soát 36B8-558.49 mà Bùi NT sử dụng làm phương tiện đi mua bán ma túy. Quá trình điều tra, xác định chiếc xe này là của anh Bùi NT (con trai Thược). Ngày 30/10/2024, Thược mượn chiếc xe trên của anh Tuấn để đi mua thuốc chữa bệnh, nên anh Tuấn đã đồng ý cho Thược mượn xe. Anh Tuấn không biết việc Thược mượn chiếc xe trên để đi mua bán trái phép chất ma túy. Cơ quan CSĐT Công an huyện Triệu Sơn đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại chiếc xe trên cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Bùi NT.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lê TD Công an huyện Triệu Sơn đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng. Lê TD đã chấp hành xong việc nộp phạt.

Số vật chứng thu giữ của vụ án gồm: 01 phong bì ma túy niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, gắn kèm sim thu giữ của Hoàng ĐL; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11, gắn kèm sim thu giữ của Hoàng ĐL; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5, gắn kèm sim thu giữ của Bùi NT và 01 bật lửa ga màu vàng đã qua sử dụng, hiện đang được nhập kho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa chờ xử lý.

* Tại bản Cáo trạng số: 146/CT-VKSTPTH ngày 10/4/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa đã truy tố các bị cáo Hoàng ĐL, Bùi NT về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tại phiên tòa luận tội đối với các bị cáo vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Hoàng ĐL, Bùi NT phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Hoàng ĐL từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Xử phạt bị cáo Bùi NT từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) của bị cáo Hoàng ĐL có được từ việc bán ma túy cho Bùi NT. Truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) của bị cáo Bùi NT có được từ việc bán ma túy cho Lê TD. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, gắn kèm sim thu giữ của Hoàng ĐL; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5, gắn kèm sim thu giữ của Bùi NT liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ma túy niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa và 01 bật lửa ga màu vàng đã qua sử dụng. Trả lại cho bị cáo Hoàng ĐL 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11, gắn kèm sim vì không liên quan đến hành vi phạm tội.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên toà, các bị cáo Hoàng ĐL, Bùi NT đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo đã thống nhất với lời khai của người liên quan, người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác về hành vi đã thực hiện, thời gian, địa điểm, vật chứng thu được và các chứng cứ khác phản ánh tại hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ ngày 30/10/2024, tại số nhà 30/221 QT, phường ĐV, thành phố Thanh Hóa, Hoàng ĐL đã bán 01 gói ma túy, loại Heroine cho Bùi NT để lấy số tiền 1.000.000 đồng. Ngoài ra, Lợi còn cất giấu 0,799g ma túy, loại Heroine nhằm mục đích để bán.

Sau khi mua được ma túy của Lợi thì Bùi NT lấy một ít ra sử dụng, số ma túy còn lại Thược chia làm 02 gói rồi bán 01 gói ma túy cho Lê TD tại khu vực đèn xanh, đèn đỏ giao nhau giữa đường tránh phía Tây thành phố Thanh Hóa và Quốc lộ 45 thuộc phường Quảng Thịnh, thành phố Thanh Hóa, để lấy số tiền 1.200.000 đồng. Đối với gói ma túy còn lại có tổng khối lượng là 0,306g ma túy, loại Heroine Thược cất giấu trong túi áo nhằm mục đích để bán.

Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố các bị cáo Hoàng ĐL, Bùi NT về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử thấy rằng: Đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng, bởi hành vi Mua bán trái phép chất ma túy của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, là vấn đề đang rất quan tâm trong xã hội hiện nay. Ma túy đã làm cho nhiều thế hệ, nhiều gia đình, nhiều người vi phạm pháp luật, là nguyên nhân dẫn tới làm phát sinh nhiều tội phạm khác. Bản thân các bị cáo phải là người hiểu rõ nhất về tác hại của ma túy đối với sức khỏe, nhân cách, kinh tế, hạnh phúc gia đình và hậu quả khôn lường, nhưng các bị cáo không ý thức được những điều đó, mà vẫn mua bán để thu lợi bất chính. Vì vậy, cần có đường lối xử lý nghiêm khắc đối với các bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Xét vị trí, vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án với vai trò độc lập thực hiện hành vi phạm tội. Hoàng ĐL là người có vị trí đứng đầu vụ án, bởi Lợi là người cung cấp nguồn ma túy để bán. Cho nên, trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Lợi phải chịu ở mức cao hơn bị cáo Bùi NT.

Xét nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội, sau khi phạm tội đã tự nguyện ra đầu thú. Cho nên, các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo Bùi NT ngày 03/4/2024, bị Công an huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Cho nên, cần được xem xét khi quyết định hình phạt.

Từ những nhận xét đánh giá trên, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành công dân tốt, biết chấp hành pháp luật.

Khi quyết định hình phạt, xét thấy các bị cáo thuộc đối tượng lần đầu phạm tội, không có việc làm, không có thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Về vật chứng của vụ án: Cần truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) của bị cáo Hoàng ĐL có được từ việc bán ma túy cho Bùi NT. Truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) của bị cáo Bùi NT có được từ việc bán ma túy cho Lê TD. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, gắn kèm sim thu giữ của Hoàng ĐL; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5, gắn kèm sim thu giữ của Bùi NT liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ma túy niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa và 01 bật lửa ga màu vàng đã qua sử dụng. Trả lại cho bị cáo Hoàng ĐL 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11, gắn kèm sim vì không liên quan đến hành vi phạm tội. Số vật chứng trên theo biên bản giao nhận vật chứng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30

tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Tuyên bố: Các bị cáo Hoàng ĐL, Bùi NT phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

* Xử phạt:

1. Bị cáo Hoàng ĐL 36 (ba sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/11/2024.

2. Bị cáo Bùi NT 36 (ba sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/11/2024.

* Về biện pháp tư pháp: Truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) của bị cáo Hoàng ĐL. Truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) của bị cáo Bùi NT.

* Về xử lý vật chứng: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, gắn kèm sim thu giữ của Hoàng ĐL và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5, gắn kèm sim thu giữ của Bùi NT. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ma túy niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa và 01 bật lửa ga màu vàng đã qua sử dụng. Trả lại cho bị cáo Hoàng ĐL 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11, gắn kèm sim. Số vật chứng trên theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 112/2025/THA vào hồi 15 giờ 35 phút ngày 23 tháng 4 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

* Về án phí: Buộc các bị cáo Hoàng ĐL, Bùi NT mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

* Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo được quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ