vanban.org

Bản án 215/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/ Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Ánh T với ông Trần Trung T1. 2/ Về quan hệ con chung: Trần Trung N, sinh ngày 26/5/2004 đã trưởng thành và có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xem xét; con chung Trần Thị Quỳnh N1, sinh ngày 31/8/2009 hiện chưa trưởng thành giao cho… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 215/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 29-12-2023
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Bé Thu

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thị Mỹ Hường và ông Trần Ngọc Toàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Ngọc Dung, là Thư ký Tòa án, của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố Long Xuyên tham gia phiên toà: Không thuộc trường hợp Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa.

Trong ngày 29 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 636/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 596/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 20 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị Ánh T, sinh năm 1984.

Địa chỉ: Số A, B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Ông Trần Trung T1, sinh năm 1982

Địa chỉ: Số A, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.

Tại phiên tòa ngày 29 tháng 12 năm 2023 nguyên đơn bà T có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông T1 vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Căn cứ đơn khởi kiện nộp cho Tòa án ngày 28/6/2023, cũng như quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trần Thị Ánh T thể hiện nội dung và yêu cầu khởi kiện như sau:

Bà và ông T1 quen biết qua mai mối của người thân, tìm hiểu và đi đến hôn nhân vào năm 2003, vợ chồng có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, do tính tình không hợp, thường xảy ra bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xảy ra cự cãi. Nhận thấy tình cảm không còn, hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu ly hôn với ông T1.

- Về con chung: Có 02 con chung tên Trần Trung N, sinh ngày 26/5/2004 và Trần Thị Quỳnh N1, sinh ngày 31/8/2009. Do cháu N đã thành niên nên khi ly hôn bà T không yêu cầu giải quyết; riêng cháu N1 chưa trưởng thành, cháu đang sống chung với bà nên khi ly hôn bà yêu cầu tiếp tục được nuôi cháu và không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có.

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn ông Trần Trung T1 vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

Tại phiên tòa ngày 29 tháng 12 năm 2023: Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt không lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà T khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn với ông T1. Ông T1 có nơi cư trú tại thành phố L, tỉnh An Giang. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý là đúng thẩm quyền.

Về thủ tục tố tụng: Bà T vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; ông T1 được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự: Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bà T, ông T1.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Bà T và ông T1 tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND phường B, thành phố L, tỉnh An Giang vào ngày 17/6/2003. Sau khi kết hôn cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên bà T yêu cầu ly hôn với ông T1. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, không tìm được tiếng nói chung trong gia đình. Hiện tại do tình cảm không còn nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông T1. Hội đồng xét xử nhận thấy: Vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Tuy nhiên, trong cuộc hôn nhân giữa bà T và ông T1 ông, bà lại không thực hiện các nghĩa vụ này. Quá trình giải quyết vụ án, ông T1 không có văn bản trình bày ý kiến gửi Tòa án, không tham dự các buổi hòa giải, không tham dự phiên tòa, không đưa ra được giải pháp hàn gắn hôn nhân giữa ông, bà. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét yêu cầu của ông T1. Tại phiên tòa hôm nay, cả bà T và ông T1 đều vắng mặt nên Hội đồng xét xử cũng không thể động viên hàn gắn cuộc hôn nhân của ông, bà. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T với ông T1.

Về con chung: Trần Trung N, sinh ngày 26/5/2004 đã trưởng thành và có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xem xét; con chung Trần Thị Quỳnh N1, sinh ngày 31/8/2009 hiện chưa trưởng thành. Khi ly hôn bà T yêu cầu được nuôi cháu N1. Căn cứ biên bản ghi ý kiến của cháu N1 ngày 30/10/2023 thể hiện cháu có nguyện vọng được sống chung với mẹ. Trong vụ án này, ông T1 không có yêu cầu được nuôi con, hay thể hiện ý kiến tranh chấp việc nuôi con với bà T. Do đó, căn cứ quyền lợi mọi mặt của con chung Hội đồng xét xử quyết định giao con chung Trần Thị Quỳnh N1 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng khi bà T và ông T1 ly hôn.

Bà T phải tạo điều kiện cho ông T1 trong việc trông nom, chăm sóc và giáo dục con chung. Việc nuôi con chung không cố định.

Đối với việc cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung trong thời kỳ hôn nhân: Bà T trình bày không có tuy nhiên sau khi bản án có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh có nợ chung trong thời kỳ hôn nhân thì bà T và ông T1 phải liên đới trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án khác.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà T phải nộp theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, 186, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 228, Điều 238, 271, 273, 278 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

- Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/ Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Ánh T với ông Trần Trung T1.

2/ Về quan hệ con chung: Trần Trung N, sinh ngày 26/5/2004 đã trưởng thành và có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xem xét; con chung Trần Thị Quỳnh N1, sinh ngày 31/8/2009 hiện chưa trưởng thành giao cho bà Trần Thị Ánh T trực tiếp nuôi dưỡng khi bà T và ông T1 ly hôn.

Bà T phải tạo điều kiện cho ông T1 trong việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung. Việc nuôi con chung không cố định.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ông T1 không phải cấp dưỡng nuôi con do bà T không yêu cầu.

3/ Về quan hệ tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân: Không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4/ Về quan hệ nợ chung trong thời kỳ hôn nhân: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5/ Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà T phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002510 ngày 16 tháng 10 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Bà T đã nộp đủ.

6/ Về quyền kháng cáo: Bà Trần Thị Ánh T, ông Trần Trung T1 được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ