vanban.org

Bản án 215/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Bến Cát, tỉnh Bình Dương Tuyên án 19/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cù Tiến Đ phạm tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi,…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 134 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA

HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TH

B N C T

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 215/2022/HS-ST. Ngày: 19-12-2022.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA

HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA N NHÂN DÂN TH

B N C T, TỈNH BÌNH DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thắm;

2. Bà Nguyễn Kim Lý.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Thủy, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Triều Mến, Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 12 năm 2022; tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 208/2022/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 212/2022/QĐXXST-HS ngày 05/12/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Cù Tiến Đ (tên gọi khác: Không), sinh năm 1988, tại tỉnh Phú Thọ; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã X, huyện Xuân L, tỉnh Đồng Nai; tạm trú: Chung cư S, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Cù Tiến C và bà Hoàng Thị Ơ; có vợ tên Phạm Thị Thu T và 01 con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không; Ngày 18/3/2022, bị cáo ra đầu thú, bị tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Bến Cát cho đến ngày 27/3/2022 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ, có mặt.

Bị hại: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1988; hộ khẩu thường trú: Khu phố A, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương; có mặt.

NỘI DUNG V N:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Cù Tiến Đ, Hoàng Văn D và Ngô Quang H cùng làm công việc bắt heo tại trạm trung chuyển heo CP cạnh đường Ba Lăng Xi thuộc khu phố 4, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương để vận chuyển về tỉnh Đồng Nai.

Tối ngày 16/3/2022, Đường điều khiển xe tải cùng D, H đến trạm heo CP để bắt heo. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, Đường thấy xe tải biển số 61H-059.93 do ông Nguyễn Văn T (sinh năm 1970, HKTT: Khu phố 1, phường Tân Định, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương) điều khiển đậu cản đường làm xe tải của Đường không vào bắt heo được nên Đ kêu T dời xe tải đi nhưng T nói để từ từ T dời xe nên hai bên xảy ra tranh cãi. Đ gọi D đang lùa heo bên trong trại heo ra nói chuyện với T. D đi ra dùng tay tát vào mặt T 01 cái, Đ thấy vậy cũng chạy lại dùng tay tát T thì được mọi người can ngăn.

Sau đó, T điều khiển xe tải biển số 61H-059.93 đậu vị trí khác để cho xe tải của Đ vào bắt heo, rồi T vào nằm võng ở trong chòi nghỉ thuộc khu vực trại heo. Lúc này, T gọi điện thoại cho Nguyễn Minh H (sinh năm 1987, HKTT: Khu phố A, phường H, thị xã B, tỉnh Bình Dương) là cháu của Thông nói T bị đánh ở trại heo và kêu H vào nói chuyện với những người đánh T, do T nghĩ H quen biết với Đ và D. H đồng ý và rủ Nguyễn Thanh T là bạn của H đi cùng đến trại heo để nói chuyện giải quyết mâu thuẫn, do T có quen biết với những người ở trại heo.

Khoảng 20 giờ cùng ngày, H nghe sự việc Đ và D đánh nhau với T nên đi ra chòi nghỉ nói chuyện với T để giải hòa. Trong lúc, T và H đang nói chuyện với nhau thì Đ đi lại dùng chân đá T 01 cái. H can ngăn và nói Đ đi vào trong. Vừa lúc này, H điều khiển xe mô tô chở T đến dừng phía trước chòi nghỉ. H ngồi trên xe mô tô, còn T đi vào phía trong chòi. T nhìn thấy H đứng gần ông T, T nghĩ H là người đánh ông T nên T lao vào dùng tay đánh H. Đường thấy H bị đánh nên Đ chạy lại chỗ lu nước (cách vị trí Đường đứng khoảng 5m) lấy 01 con dao dài khoảng 40cm, đầu lưỡi dao bằng, bản rộng khoảng 06cm chạy đến đứng đối diện với T. Đ chém T 01 nhát theo hướng từ trên xuống thì T giơ tay trái lên đỡ nên trúng tay trái của T. T liền bỏ chạy thì Đ tiếp tục cầm dao chém 01 nhát trúng vào vùng lưng của T. T bỏ chạy ra đường Ba Lăng Xi và nhờ người dân đưa đi bệnh viện. Còn Đ cầm dao lên xe tải điều khiển chạy về Đồng Nai. Khi đến đoạn giữa cầu Hóa An thuộc tỉnh Đồng Nai thì vứt con dao dùng chém T xuống sông, rồi về phòng trọ ở Chung cư Sơn An, phường Tam Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai lẫn trốn. Đến ngày 18/3/2022, Cù Tiến Đ đến Công an thị xã Bến Cát đầu thú. (Bút lục 63 – 67, 101 – 102, 113 – 124)

Theo Kết luận giám định pháp y về thương tích số 292/2022/GDPY ngày 28/4/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh Bình Dương, kết luận tỷ lệ thương tật của Nguyễn Thanh T: (Bút lục 38 - 42)

- Dấu hiệu chính qua giám định:

+ Vết thương mặt sau cổ tay trái 16 x 0,1cm hình vòng cung, đứt gân duỗi, đứt thần kinh quay, gãy xương quay trái, đã phẫu thuật nối gân cơ, thần kinh và kết hợp xương quay, vết mổ nối liền dọc đường giữa mặt sau cổ tay 2 x 0,1cm, sẹo lành. Di chứng: Tổn thương nhánh thần kinh quay, hạn chế vận động cổ - bàn tay trái.

+ Vết thương lưng phải cạnh cột sống 21 x 0,2cm, sẹo lành.

- Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 24% (hai mươi bốn phần trăm).

- Cơ chế hình thành vết thương:

+ Vết thương mặt sau cổ tay trái, đứt thần kinh quay, gãy xương quay trái: Chiều nằm ngang, hướng từ sau ra trước chếch từ dưới lên, bờ sắc gọn, khả năng do vật sắc gây ra.

+ Vết thương lưng phải cạnh cột sống: Chiều từ trên xuống, hướng từ sau ra trước, bờ sắc gọn, khả năng do vật sắc gây ra.

Về trách nhiệm dân sự: Cù Tiến Đ đã thỏa thuận bồi thường chi phí điều trị thương tích cho bị hại Nguyễn Thanh T với tổng số tiền là 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng). Ông T không yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Đ. (Bút lục 103 - 104)

Cáo trạng số 205/CT-VKSBC ngày 10/11/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát đã quyết định truy tố bị cáo Cù Tiến Đ về tội “cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Bị cáo khai nhận: Bị cáo đã thực hiện hành vi gây thương tích cho bị hại như nội dung Cáo trạng đã mô tả. Bị cáo không có ý kiến gì đối với Bản Kết luận giám định pháp y thương tích số: 292/2022/GĐPY ngày 28/4/2022 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh Bình Dương, không có ý kiến gì đối với nội dung Cáo trạng số 205/CT-VKSBC ngày 10/11/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát.

Bị hại trình bày: Do hiểu nhầm nên bị cáo gây thương tích cho bị hại, vết thương của bị hại đã bình phục, bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xử bị cáo mức hình phạt thấp nhất.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Cù Tiến Đ phạm tội:“Cố ý gây thương tích”. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 (bị cáo đầu thú, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt) Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017; đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Cù Tiến Đ từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo.

Bị cáo không tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử cho bị cáo cơ hội để về lao động lo cho gia đình.

NH N Đ NH CỦA TÒA N:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1 Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Bến Cát, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

2 Về tình tiết định tội, định khung hình phạt:

[2.1] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Giấy chứng nhận thương tích số 059/CN ngày 31/3/2022 của Bệnh viện nhân dân 115 tại Thành phố Hồ Chí Minh; phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.

2.2 Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết được hậu quả của hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm chém vào vùng tay và vùng lưng của bị hại có thể gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của bị hại nhưng bị cáo vẫn ngoan cố thực hiện, thể hiện ý thức xem thường pháp luật, xem thường tính mạng, sức khỏe của người khác.

[2.3] Hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 24% của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “cố ý gây thương tích” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ (dùng hung khí nguy hiểm) khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017. Do đó, bản Cáo trạng số 205/CT-VKSBC ngày 10/11/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát cũng như ý kiến luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

3 Xét về tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo: Giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẩn nhưng bị cáo đã sử dụng 01 con dao dài khoảng 40cm, lưỡi dao rộng khoảng 06cm đứng đối diện để chém vào người bị hại theo hướng từ trên xuống dưới, bị hại dơ tay lên đỡ nên trúng vào tay trái của bị hại, bị hại bỏ chạy thì bị cáo lại tiếp tục chém vào vùng lưng bên phải của bị hại cho thấy bản chất hung hăng, liều lĩnh và bất chấp hậu quả của bị cáo. Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm đối với xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của bị hại và còn gây mất an ninh trật tự tại nơi xảy ra vụ án nên cần phải xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm, tương xứng với tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

4 Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

4.2 Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; bị cáo đầu thú, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017.

[5] Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng; bị cáo có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì không ảnh hưởng đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Đối chiếu với quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2022), Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo có đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[6] Xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Đối với Hoàng Văn D có hành vi dùng tay đánh ông Nguyễn Văn Th; Nguyễn Thanh T có hành vi dùng tay đánh Ngô Quang H, ngày 23/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát ra Quyết định xử phạt hành chính số 52, 53 phạt Hoàng Văn D và Nguyễn Thanh T mỗi người số tiền 6.500.000 đồng là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

[8] Về biện pháp tư pháp:

[8.1 Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại với số tiền là 300.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

[8.2 Về vật chứng: Không thu giữ được nên không xem xét.

[9] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUY T Đ NH:

1. Tuyên bố bị cáo Cù Tiến Đ phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

2. Về hình phạt: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017; căn cứ vào Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2022).

Xử phạt bị cáo Cù Tiến Đ 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày Tòa tuyên án (ngày 19/12/2022).

Giao bị cáo Cù Tiến Đ cho Ủy ban nhân dân xã Xuân Thọ, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

3. Về biện pháp tư pháp: Đã giải quyết xong.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo và bị hại được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG ÉT Ử SƠ THẨM

- TAND tỉnh Bình Dương;

THẨM PH N – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

- VKSND tỉnh Bình Dương;

- PV27, Công an tỉnh Bình Dương;

- Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;

- VKSND thị xã Bến Cát;

(đã ký)

- Công an thị xã Bến Cát;

- Chi cục THADS thị xã Bến Cát;

- Người tham gia tố tụng;

- Lưu: HS, VT.

Nguyễn Văn Phƣơng

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Văn Phương Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG ÉT Ử SƠ THẨM

- TAND tỉnh Bình Dương;

THẨM PH N – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

- VKSND tỉnh Bình Dương;

- PV27, Công an tỉnh Bình Dương;

- Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;

- VKSND thị xã Bến Cát;

- Công an thị xã Bến Cát;

- Chi cục THADS thị xã Bến Cát;

- Người tham gia tố tụng;

- Lưu: HS, VT.

Nguyễn Văn Phƣơng

Các hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thắm Nguyễn Hoàng Vinh

Nguyễn Văn Phƣơng Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG ÉT Ử SƠ THẨM

- TAND tỉnh Bình Dương;

THẨM PH N – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

- VKSND tỉnh Bình Dương;

- PV27, Công an tỉnh Bình Dương;

- Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;

- VKSND thị xã Bến Cát;

- Công an thị xã Bến Cát;

- Chi cục THADS thị xã Bến Cát;

- Người tham gia tố tụng;

- Lưu: HS, VT.

Nguyễn Văn Phƣơng

Các hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thắm Nguyễn Kim Lý

Nguyễn Văn Phƣơng

Cỡ chữ