vanban.org

Bản án 215/2020/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, t t cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi su t quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ lu t d n sự năm 2015…

Án phí d n sự sơ thẩm: Ông Nguy n hắc H phải chịu án phí d n sự sơ thẩm là 5.522.880 (năm triệu năm trăm hai mươi hai ngàn tám trăm tám mươi) đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Nguyên đơn Công ty TNHH MTV H; bị đơn Nguyễn Khắc H"
  • Tòa quyết gì? từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, t t cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi su t quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ lu t d n sự năm 2015…
  • Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

__________________________________________________________________________________
Bản án số: 215/2020/DS-ST
Ngày: 20/7/2020
V/v tranh ch p bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 9 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: ng Nguy n Mạnh Cường

Các Hội thẩm nhân dân:

1. ng Nguy n Chí Quý

2. Bà Phan Thị Bé

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến là Thư ký Tòa án của Tòa án nh n d n Qu n 9, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Quyên – i m sát viên

Ngày 20 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nh n d n Qu n 9, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 475/2018/TLST-DS ngày 21 tháng 8 năm 2018 về việc tranh ch p bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2020/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 6 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 99/2020/QĐST-DS ngày 30 tháng 6 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty TNHH Một thành viên H

Trụ sở: tỉnh Đồng Nai

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: ng Phạm Văn T – Chức danh: Chủ tịch Công ty kiêm Giám đốc, là đại diện theo pháp lu t

2. Bị đơn: Ông Nguy n hắc H

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thành phố Hồ Chí Minh

Nơi cư trú: Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. ng Nguy n M u A

Địa chỉ: Thành phố Hồ Chí Minh.

3.2. ng Trịnh Văn Đ

Địa chỉ: tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 30/5/2018 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Công ty TNHH Một thành viên H (gọi tắt là Công ty H) có ông Phạm Văn T đại diện trình bày: Vào lúc 17 giờ 00 phút ngày 23 tháng 02 năm 2018, ông Trịnh Văn Đ điều khi n xe ô tô bi n số 60A-373.84 (thuộc sở hữu của Công ty H), chở ông Phạm Văn T là người đại diện theo pháp lu t của Công ty H, lưu thông trên Quốc lộ 1 theo hướng từ Long hánh về Biên Hòa. hi đi đến m 1852 Quốc lộ 1 thuộc địa ph n p T y Bắc, xã Bình Minh, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, đ tránh va chạm với một xe máy không rõ bi n số có hành vi tạt đầu xe mình nên ông Đ phải thắng g p, do không đảm bảo khoảng cách an toàn nên xe tải bi n số 51C-275.92 (thuộc sở hữu của ông Nguy n hắc H) do ông Nguy n M u A điều khi n đã va chạm vào phía sau xe 60A-373.84 g y thiệt hại nặng nề. Công an huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đã tiến hành l p biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện trong vụ tai nạn, trưng cầu ki m định mức độ thiệt hại của xe 60A-373.84 và l y lời khai của các bên liên quan. Ngày 12 tháng 3 năm 2018, Công an huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai ban hành Văn bản số 302/BC-CAH báo cáo kết lu n điều tra, giải quyết tai nạn giao thông, kết lu n: Do h u quả của xe ô tô 60A-373.84 bị thiệt hại nhỏ với số tiền tổng cộng là 57.658.000 đồng, chưa đủ cơ sở đ khởi tố vụ án nên quyết định xử phạt hành chính ông Nguy n M u A do không giữ khoảng cách an toàn giữa hai xe g y tai nạn giao thông. Công ty H phải thuê xe ô tô bi n số 60A-389.69 của Công ty TNHH D (gọi tắt là Công ty D) đ làm phương tiện di chuy n phục vụ cho hoạt động của Công ty H trong thời gian xe ô tô 60A-373.84 bị hư hỏng và đưa đi sửa chữa tại Công ty TNHH Dịch vụ Thương mại T (gọi tắt là Công ty T). Ngay sau khi xảy ra va chạm và trong quá trình giải quyết tại Công an huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai hai bên đã tiến hành thương lượng nhưng không đạt được thống nh t. Vì v y, Công ty H yêu cầu ông Nguy n hắc H là chủ xe ô tô bi n số 51C-275.92, phải bồi thường thiệt hại cho Công ty H số tiền chi phí sửa chữa xe ô tô 60A-373.84 là 57.658.000 đồng, chi phí thẩm định thiệt hại là 3.300.000 đồng và chi phí thuê xe đi lại trong thời gian xe 60A-373.84 phải đưa đi sửa chữa là 49.500.000 đồng (33 ngày x 1.500.000 đồng/ngày = 49.500.000 đồng). Tổng cộng là 110.458.000 đồng. Tại bản tự khai ngày 18 tháng 10 năm 2018, bị đơn ông Nguy n hắc H trình bày: ng có cho ông Nguy n M u A thuê xe vào tháng 12 năm 2017 theo hợp đồng dài hạn. Vào lúc 17 giờ 00 phút ngày 23 tháng 02 năm 2018, ông A đi chở hàng về thì xảy ra tai nạn tại địa ph n huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. ng không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn, ông chỉ đồng ý bồi thường cho nguyên đơn số tiền chi phí sửa chữa xe ô tô 60A-373.84 là 57.658.000 đồng và chi phí thẩm định thiệt hại là 3.300.000 đồng. hông đồng ý bồi thường chi phí thuê xe đi lại trong thời gian xe 60A-373.84 phải đưa đi sửa chữa là 49.500.000 đồng.

Tại bản tự khai ngày 09 tháng 7 năm 2019 và ngày 22 tháng 5 năm 2020, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguy n M u A trình bày: Vào ngày 23 tháng 02 năm 2018, ông có điều khi n xe ô tô tải do ông Nguy n hắc H là chủ sở hữu, xảy ra tai nạn với xe ô tô của Công ty H. Sau khi xảy ra tai nạn, ông có thương lượng với đại diện Công ty H về khoản tiền bồi thường là 20.000.000 đồng. Do ông không có đủ tiền nên ông có đề nghị ông H hỗ trợ rồi ông sẽ trả lại sau nhưng ông H không đồng ý. Ông và ông H không ký hợp đồng thuê xe tải bi n số 51C-275.92. Nay Công ty H khởi kiện yêu cầu ông H bồi thường thiệt hại, ông A không có ý kiến gì và đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp lu t.

Tại bản tự khai ngày 01 tháng 10 năm 2018 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trịnh Văn Đ trình bày: Vào lúc 17 giờ 00 phút ngày 23/02/2018, ông điều khi n xe ô tô bi n số 60A-373.84 thuộc sở hữu của Công ty H, lưu thông theo hướng từ Long hánh về Thành phố Hồ Chí Minh. hi đến địa đi m Km 1852 Quốc lộ 1A, p T n Bình, xã Bình Minh, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, xe đang lưu thông với tốc độ khoảng 30km/h trong làn đường xe ô tô, phía trước có một xe mô tô không rõ bi n số chạy trong làn xe mô tô thì chuy n hướng đột ngột rẽ vào làn xe ô tô nên ông đã thắng g p đ tránh xảy ra va chạm với xe mô tô đó thì bị xe ô tô tải bi n số 51C-275.92 do ông Nguy n M u A điều khi n đang lưu thông phía sau va chạm vào đuôi xe của ông. Sau khi dừng xe, ông xuống ki m tra thì th y đầu xe tải 51C-275.92 đã tông vào cánh cửa cốp sau của xe 60A-373.84 g y hư hỏng. Trong vụ tai nạn này, ông điều khi n xe đúng quy định của pháp lu t về tốc độ, việc thắng g p là đ tránh xảy ra va chạm với xe mô tô và khi đó xe của ông chạy với tốc độ ch m nên việc xảy ra tai nạn là lỗi của xe 51C-275.92 do không đảm bảo khoảng cách an toàn. Ông không có ý kiến và yêu cầu gì đối với yêu cầu của nguyên đơn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp lu t.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn ông Nguy n hắc H đến Tòa án đ cung c p tài liệu, chứng cứ, tham gia phiên họp ki m tra việc giao nộp, tiếp c n, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông H vắng mặt không có lý do và không cung c p tài liệu, chứng cứ gì cho Tòa án.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn yêu cầu ông Nguy n hắc H phải bồi thường cho Công ty H số tiền chi phí sửa chữa xe ô tô 60A-373.84 là 57.657.600 đồng, chi phí thẩm định thiệt hại là 3.300.000 đồng và chi phí thuê xe đi lại trong thời gian xe 60A-373.84 phải đưa đi sửa chữa là 49.500.000 đồng. Tổng cộng là 110.457.600 đồng.

Bị đơn ông Nguy n hắc H vắng mặt không có lý do.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguy n M u A và ông Trịnh Văn Đ có đơn đề nghị vắng mặt.

Đại diện Viện ki m sát phát bi u ý kiến: Về việc tu n theo pháp lu t tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn, đúng quy định của pháp lu t. Việc c p tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng quy định của pháp lu t tố tụng d n sự. Xác định đúng người tham gia tố tụng. Quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng quy định của pháp lu t. Vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử. Hội đồng xét xử thực hiện đúng quyền hạn theo quy định của pháp lu t. Về ch p hành pháp lu t của người tham gia tố tụng k từ khi thụ lý vụ án đến trước thời đi m Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định pháp lu t, tu n theo nội quy phiên tòa. Bị đơn không ch p hành theo quy định tại Điều 70 Bộ lu t tố tụng d n sự năm 2015. Đương sự có đầy đủ năng lực pháp lu t và năng lực hành vi tố tụng d n sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử ch p nh n yêu cầu của nguyên đơn. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định páp lu t.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh lu n tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nh n định: [1] Về quan hệ tranh ch p và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ vào yêu cầu của nguyên đơn, quan hệ tranh ch p là tranh ch p bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định tại khoản 6 Điều 26 Bộ lu t Tố tụng d n sự năm 2015 và bị đơn cư trú tại Qu n 9, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nh n d n Qu n 9 theo đi m a khoản 1 Điều 35 và đi m a khoản 1 Điều 39 Bộ lu t Tố tụng d n sự năm 2015. [2] Về sự vắng mặt của các đương sự: ng Nguy n hắc H đã được Tòa án triệu t p hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do; ông Nguy n M u A và ông Trịnh Văn Đ có văn bản đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 Bộ lu t Tố tụng d n sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông H, ông A và ông Đ. [3] Về yêu cầu của nguyên đơn: [4] Theo Báo cáo kết lu n điều tra, giải quyết tai nạn giao thông số 302/BC-CAH ngày 12 tháng 3 năm 2018 của Công an huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai thì vào lúc 17 giờ 00 phút ngày 23 tháng 02 năm 2018 tại m 1852 Quốc lộ 1A, p T n Bắc, xã Bình Minh, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, ông Nguy n M u A điều khi n xe ô tô tải bi n số 51C-275.92 đi hướng Long hánh – Biên Hòa do không giữ khoảng cách an toàn đã va đụng vào phía sau xe ô tô du lịch 7 chỗ bi n số 60A-373.84 do ông Trịnh Văn Đ điều khi n lưu thông cùng chiều phía trước. Do h u quả thiệt hại nhỏ với số tiền tổng cộng là 57.658.000 đồng, chưa đủ cơ sở đ khởi tố vụ án. Vì v y, Công an huyện Trảng Bom ra quyết định xử phạt hành chính ông Nguy n M u A điều khi n xe ô tô bi n số 51C-275.92 không giữ khoảng cách an toàn giữa hai xe theo quy định gây tai nạn giao thông.

Tại Văn bản trả lời xác minh của Công ty T thì vào ngày 28 tháng 02 năm 2018, Công ty có tiếp nh n ki m tra, tháo rã và báo giá sửa chữa đồng sơn đối với xe ô tô 60A-373.84 của Công ty H. Tình trạng xe khi tiếp nh n bị móp cốp sau, b đèn sau bên trái, b nẹp, b bát, b cảm biến, móp cản sau. Xe ô tô 60A-373.84 được bàn giao lại cho chủ sở hữu vào ngày 27 tháng 3 năm 2018 ngay sau khi khách hàng thanh toán tiền tại quầy thu ng n.

Theo Bảng báo giá ngày 28 tháng 02 năm 2018 và các hóa đơn giá trị gia tăng do Công ty T xu t cho khách hàng thì số tiền sửa chữa xe ô tô 60A-373.84 Công ty H đã thanh toán là 57.657.600 đồng.

Theo Chứng thư thẩm định giá ngày 07/3/2018 do Công ty Cổ phần Thẩm định giá T l p thì chi phí sửa chữa xe Ford Everest bi n số 60A-373.84 là 57.658.000 đồng. Công ty H đã thanh toán số tiền 3.300.000 đồng là phí thẩm định giá về chi phí sửa chữa xe Ford Everest bi n số 60A-373.84 theo Hóa đơn giá trị gia tăng ngày 01/3/2018 do Công ty Cổ phần Thẩm định giá T l p.

Ngày 23 tháng 02 năm 2018 xảy ra va chạm giữa xe ô tô tải bi n số 51C-275.92 với xe ô tô bi n số 60A-373.84 làm cho xe ô tô bi n số 60A-373.84 bị hư hỏng. Đ y là phương tiện của Công ty H dùng làm phương tiện chở người đại diện theo pháp lu t của Công ty H đi làm. hi xe bị hư hỏng thì Công ty H đã thuê xe ô tô Toyota bi n số 60A-389.69 của Công ty D đ làm phương tiện thay thế. Xe ô tô Toyota Fortuner 60A-389.69 là loại xe ô tô con 07 chỗ ngồi, có dung tích 2393, đăng ký ngày 06 tháng 6 năm 2017 (theo Chứng nh n đăng ký xe ô tô số 070769 do Phòng Cảnh sát giao thông - Công an tỉnh Đồng Nai c p cho Công ty D); xe ô tô Ford Everest bi n số 60A-373.84 là loại xe ô tô con 07 chỗ ngồi, dung tích 2198, đăng ký ngày 24 tháng 8 năm 2017 (theo Chứng nh n đăng ký xe ô tô số 045937 do Phòng Cảnh sát giao thông – Công an tỉnh Đồng Nai c p cho Công ty H). Công ty H đã thanh toán số tiền thuê xe 60A-389.69 trong thời gian 33 ngày (từ ngày xảy ra tai nạn 23 tháng 02 năm 2018 đến ngày nh n xe đã sửa chữa xong ngày 27 tháng 3 năm 2018 là 33 ngày) với số tiền là 49.500.000 đồng theo hóa đơn mà Công ty D phát hành.

Xét tình trạng xe khi vào đơn vị sửa chữa và các hạng mục sửa chữa phù hợp với lời khai của nguyên đơn và chứng thư thẩm định giá; việc thuê một phương tiện khác có thông số tương tự phương tiện bị hư hỏng nhằm mục đích khắc phục thiệt hại quy định tại Điều 589 của Bộ lu t D n sự năm 2015. Do đó, có đủ cơ sở xác định thiệt hại thực tế của Công ty H gồm 57.657.600 đồng chi phí sửa chữa xe, 3.300.000 đồng là phí thẩm định giá về chi phí sửa chữa xe và 49.500.000 đồng tiền thuê phương tiện khác đ thay thế trong thời gian xe ô tô 60A-373.84 bị hư hỏng và đưa đi sửa chữa, tổng thiệt hại của nguyên đơn là 110.457.600 đồng.

Theo gi y chứng nh n đăng ký xe ô tô số 130034 do Phòng Cảnh sát giao thông – Công an Thành phố Hồ Chí Minh c p thì xe ô tô tải bi n số 51C-275.92 thuộc sở hữu của ông Nguy n hắc H.

Tại khoản 2 Điều 601 Bộ lu t D n sự năm 2005 quy định: “Chủ sở hữu nguồn nguy hi m cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hi m cao độ g y ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thu n khác”. [12] Ông Nguy n hắc H cho rằng ông đã cho ông Nguy n M u A thuê xe theo hợp đồng dài hạn nhưng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh. Trong khi đó, ông Nguy n M u A khai giữa ông và ông H chưa giao kết hợp đồng thuê xe. [13] Xét ngày 23 tháng 02 năm 2018, ông A điều khi n xe tải thuộc sở hữu của ông H, đã có lỗi không giữ khoảng cách an toàn dẫn đến va chạm với xe ô tô của Công ty H, làm xe ô tô của Công ty H bị hư hỏng phần phía sau xe, tổng thiệt hại cho Công ty H gồm chi phí sửa xe, phí thẩm định chi phí sửa xe, chi phí thuê xe đi lại trong thời gian xe bị hư hỏng và sửa chữa, với tổng số tiền là 110.457.600 đồng nên chủ sở hữu xe là ông H phải có trách nhiệm bồi thường các thiệt hại nêu trên cho Công ty H theo quy định tại khoản 2 Điều 601 Bộ lu t d n sự 2015. [14] Xét đề nghị của đại diện Viện ki m sát nhân dân Qu n 9 ch p nh n yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở nên Hội đồng xét xử ch p nh n yêu cầu của nguyên đơn, buộc ông H phải bồi thường cho Công ty H toàn bộ chi phí sửa chữa xe, phí thẩm định giá chi phí sửa xe và chi phí thuê xe đi lại trong thời gian chờ xe sửa chữa là 110.457.600 đồng. [15] Án phí d n sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được ch p nh n nên căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ lu t Tố tụng d n sự năm 2015 và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm với số tiền là 110.457.600 đồng x 5% = 5.522.880 đồng. [16] Nguyên đơn không phải chịu án phí nên được nh n lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 6 Điều 26; đi m a khoản 1 Điều 35; đi m a khoản 1 Điều 39; Điều 228; Điều 147 và Điều 273 của Bộ lu t Tố tụng d n sự năm 2015; Căn cứ các điều 584, 585, 589, 601 của Bộ lu t d n sự năm 2005; Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: 1. Ch p nh n yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH Một thành viên H: Buộc ông Nguy n hắc H phải bồi thường thiệt hại cho Công ty TNHH Một thành viên H số tiền là 110.457.600 (một trăm mười triệu bốn trăm năm mươi bảy ngàn sáu trăm) đồng.

từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, t t cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi su t quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ lu t d n sự năm 2015.

2. Án phí d n sự sơ thẩm:

Ông Nguy n hắc H phải chịu án phí d n sự sơ thẩm là 5.522.880 (năm triệu năm trăm hai mươi hai ngàn tám trăm tám mươi) đồng.

Trả lại cho Công ty TNHH Một thành viên H 2.761.450 (hai triệu bảy trăm sáu mươi mốt ngàn bốn trăm năm mươi) đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số AA/2017/0039554 ngày 17 tháng 8 năm 2018 của Chi cục Thi hành án d n sự Qu n 9, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Lu t Thi hành án d n sự thì người được thi hành án d n sự, người phải thi hành án d n sự có quyền thỏa thu n thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Lu t Thi hành án d n sự (đã được sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Lu t Thi hành án d n sự (đã được sửa đổi bổ sung năm 2014).

Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày k từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nh n được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ