- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị L yêu cầu xin ly hôn với Phan Hoàng E"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Trần Thị L và anh Phan Hoàng E.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:215/2019/HNGĐ-ST Ngày: 03 - 6 - 2019 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP-TỈNH HẬU GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Liêm.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thế Tự;
2. Ông Nguyễn Văn Thuận.
-Thư ký phiên tòa: Ông Phan Công Trận – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 152/2019/TLST-HNGĐ, ngày 29 tháng 3 năm 2019 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2019/QĐXXST-HN, ngày 07 tháng 5 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2019/QĐST-HN, ngày 24 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Trần Thị L, sinh năm 1987.
Địa chỉ: ấp 2, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
2.Bị đơn: Phan Hoàng E, sinh năm 1982.
Địa chỉ: ấp A1, xã T, huyện H, tỉnh Hậu Giang.
Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn Trần Thị L (sau đây gọi chị L) trình bày: giữa chị và bị đơn Phan Hoàng E (sau đây gọi anh Hoàng E) qua tìm hiểu nhau mà tự nguyện quyết định đi đến hôn nhân vào năm 2008, có đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống đến năm 2016 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, anh Hoàng E không lo làm ăn mà còn cờ bạc nên vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau, đã nhiều lần hoà giải hàn gắn tình cảm nhưng không thành nên đã từ đó đến nay. Do cuộc sống chung không hạnh phúc, chị L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
-Về hôn nhân: xin ly hôn với anh Hoàng E.
-Về con chung: có hai người con chung tên Phan Ngọc Thùy D (nữ), sinh ngày 14 tháng 5 năm 2008 và cháu Phan Tấn Đ (nam), sinh ngày 15 tháng 4 năm 2011, từ khi ly thân đến nay con chung sống với chị L, nay ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, chưa yêu cầu anh Hoàng E cấp dưỡng.
-Về nợ và tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Phan Hoàng E vắng mặt nên không có lời trình bày.
Tại bản tự khai ngày 16.4.2019 các cháu Dvà cháu Đ trình bày (có sự cứng kiến của chị L): cháu D và cháu Đ đều có nguyện vọng là được sống với chị L.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: về thủ tục tố tụng: Tòa án, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đầy đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; tiếp tục giao con chung cho nguyên đơn nuôi dưỡng, bị đơn chưa phải cấp dưỡng; về nợ và tài sản chung, không yêu cầu nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp ly hôn được qui định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.
Về thủ tục tố tụng: anh Phan Hoàng E được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do; căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử mở phiên tòa xét xử vắng mặt đối với anh Hoàng E.
Xét về quan hệ hôn nhân: chị L và anh Hoàng E qua tìm hiểu nhau, tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn ngày 30 tháng 6 năm 2008 tại Ủy ban nhân dân xã Tân Hùng, huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh, nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp và được pháp luật thừa nhận.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị L, Hội đồng xét xử xét thấy: chị và anh Hoàng E tự nguyện đi đến hôn nhân, chung sống một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân theo chị L trình bày: do anh Hoàng E không lo làm ăn, vợ chồng bất đồng quan điểm sống mà giữa hai người không có giải pháp khắc phục để hoà giải hàn gắn tình cảm và đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay; Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã tạo điều kiện để anh, chị được đoàn tụ nhưng anh Hoàng E không đến để hòa giải đoàn tụ, từ đó xác định anh Hoàng E cũng không còn tha thiết với cuộc hôn nhân này; xét thấy thời gian ly thân thì tự ai người đó sống, không ai quan tâm, lo lắng cho ai. Đồng thời, tại phiên tòa hôm nay, chị L xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh Hoàng E và cương quyết xin ly hôn; từ đó thấy rằng hôn nhân giữa anh, chị đã thật sự lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình có cơ sở chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L.
Về con chung: xét hai người con chung, từ khi ly thân đến nay sống với chị L, chị L có yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cả hai cháu, yêu cầu này phù hợp với nguyện vọng của cả hai cháu D và Đ, nhằm tránh gây xáo trộn đời sống của các cháu, cần tiếp tục giao các cháu cho chị L nuôi dưỡng là phù hợp và nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc khi chị L, anh Hoàng E có yêu cầu khác.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: chị L chưa yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho anh Hoàng E mà không ai có quyền cản trở.
Về tài sản và nợ chung: không yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí: chị L phải nộp theo quy định pháp luật.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo luật định.
Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa có căn cứ chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227 Bộ Luật Tố tụng dân sự. Các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Trần Thị L và anh Phan Hoàng E.
2. Về nuôi con chung: chị Trần Thị L được trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu Phan Ngọc Thùy D (nữ), sinh ngày 14 tháng 5 năm 2008 và cháu Phan Tấn Đ (nam), sinh ngày 15 tháng 4 năm 2011 cho đến khi cháu D, cháu Đ đủ 18 tuổi hoặc khi chị L, anh Hoàng E có yêu cầu khác.
Anh Phan Hoàng E chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho anh Phan Hoàng E mà không ai có quyền cản trở.
3. Về tài sản và nợ chung: không yêu cầu, không xem xét
4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: chị Trần Thị L phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ từ 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0017186, ngày 27.3.2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang thành án phí, không ai phải nộp thêm.
Trường hợp quyết định này được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh HG; - VKSND huyện PH; - THADS huyện PH; -UBND xã Tân Hùng, h.Tiểu Cần, t.Trà Vinh; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thanh Liêm |