vanban.org

Bản án 215/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Võ Thị Mỹ T xin ly hôn với anh Đỗ Văn N.

Giấy chứng nhận kết hôn số 42/2014 do Ủy ban nhân dân xã Phú Thuận A, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 04/4/2014 không còn giá trị pháp lý. Về quan hệ con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị T với anh N"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Võ Thị Mỹ T xin ly hôn với anh Đỗ Văn N.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 215/2019/HNGĐ-ST.
Ngày: 25/9/2019.
V/v tranh chấp -Ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Bình.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Văn Tâm.

2. Bà Nguyễn Thị Ly.

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Anh Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân hu ện Ch M i t nh An Gian tham ia phiên toà: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 373/2019/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2019 về tranh chấp hôn nhân gia đình “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 331/2019/QĐXX-ST ngày 30 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Võ Thị Mỹ T, sinh năm 1994. Cư trú: Tổ 21 ấp B, xã A, huyện H, tỉnh Đồng Tháp. Có đơn xin vắng mặt.

2.Bị đơn: Anh Đỗ Văn N– sinh năm 1991. Cư trú: 346 ấp M, xã Đ, huyện C, tỉnh An Giang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bảng tự khai nguyên đơn chị Võ Thị Mỹ T trình bày: Chị và anh N chung sống với nhau vào năm 2013, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, vợ chồng chung sống được một thời gian thì xảy ra bất đồng quan điểm trong cuộc sống, hay cự cãi nên không hạnh phúc và không còn chung sống với nhau khoảng năm 2015, nhận thấy tình cảm không còn yêu cầu được ly hôn với chồng là Đỗ Văn N.

Về con chung: Có 01 con chung tên Đỗ Võ Hải Đ, sinh ngày 23/3/2014, hiện chị đang nuôi dưỡng, khi ly hôn yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Bị đơn Anh Đỗ Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng anh N không đến, không gửi ý kiến bằng văn bản, nên không có lời khai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu ý kiến, việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và những người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của pháp luật. Đối với anh N được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Về giải quyết vụ án, hôn nhân giữa Chị T và anh N là hợp pháp vì có đăng ký kết hôn. Vợ chồng mâu thuẫn và có thời gian dài và không còn chung sống khoảng 04 năm, nên vợ chồng không thể hàn gắn, Chị T đang nuôi con, anh N không có ý kiến về việc đơn khởi kiện của Chị T, do đó yêu cầu ly hôn, và nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

.Về thủ tục tố tụng: Chị Võ Thị Mỹ T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Đỗ Văn N, anh N có nơi cư trú tại ấp M, xã Đ, huyện C, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Đỗ Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.

.Về nội dung

.Về quan h hôn nhân: Hôn nhân giữa chị T và anh N là hợp pháp vì có đăng ký kết hôn. Xét tình trạng hôn nhân của anh, chị thấy rằng vợ chồng xảy ra mâu thuẫn bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cải nhau và không còn chung sống với nhau từ năm 2015 đến nay không ai quan tâm đến nhau. Qua xác minh tại địa phương cũng nhận thấy vợ chồng mâu thuẫn và không còn sống chung nhau. Cho thấy hôn nhân của vợ chồng Chị T và anh N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nghĩ nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Chị T.

.Về quan h con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Đỗ Võ Hải Đ, sinh ngày 23/3/2014 hiện đang sống chung với chị, cuộc sống đã ổn định; Căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình nghĩ nên giao con chung cho Chị T nuôi dưỡng. Chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con vì vậy không xem xét đến vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

Chị Võ Thị Mỹ T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

.Về tài sản: Không có.

.Về nợ chung: Ghi nhận Chị T xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị T phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 28, Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 273, điều 227, điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Võ Thị Mỹ T xin ly hôn với anh Đỗ Văn N.

Giấy chứng nhận kết hôn số 42/2014 do Ủy ban nhân dân xã Phú Thuận A, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 04/4/2014 không còn giá trị pháp lý.

Về quan hệ con chung:

Chị Võ Thị Mỹ T được tiếp tục nuôi con chung tên Đỗ Võ Hải Đ, sinh ngày 23/3/2014, anh N không phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị Võ Thị Mỹ T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Về quan h tài sản chung: Không có.

Về quan h nợ chung: Ghi nhận Chị T xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Võ Thị Mỹ T phải chịu 300.000đ được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0012925 ngày 18/4/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới.

Báo cho các bên đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ