vanban.org

Bản án 215/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ngô Văn Toàn - Bùi Thị Chính"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOØA AÙN NHAÂN DAÂN
HUYỆN CN
TỈNH CM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 215/2018/HNGĐ - ST
Ngày: 11 – 10 – 2018
“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CN, TỈNH CM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn A Đam

Các vị Hội thẩm nhân dân:

Ông: Bùi Hữu Khánh

Ông: Nguyễn Văn Hành

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Khải là Thư ký Tòa án nhân dân huyện CN, tỉnh CM.

Ngày 11 tháng 10 năm 2018 tại Tòa án nhân dân huyện CN, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 433/2018/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 9 năm 2018. Về việc “Tranh chấp ly hôn” Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 343/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 9 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Ngô Văn T - Sinh năm 1985 (Có mặt).

Nơi cư trú: ấp Bào Kè, xã Lương Thế Trân, huyện CN, tỉnh CM.

- Bị đơn: Chị Bùi Thị Ch - Sinh năm 1985 (Có mặt).

Nơi cư trú: ấp Bào Kè, xã Lương Thế Trân, huyện CN, tỉnh CM.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Về hôn nhân: Anh Ngô Văn T và chị Bùi Thị Ch kết hôn với nhau vào năm 2006, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Lương Thế Tr, huyện CN, tỉnh CM. Sau khi kết hôn, anh T và chị Ch chung sống hạnh phúc đến tháng 5 năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T và chị Ch bất đồng quan điểm sống dẫn đến không hòa thuận, thường hay cự cải nhau. Gia đình đã nhiều lần hòa giải, hàn gắn nhưng anh T và chị Ch không thể chung sống hạnh phúc. Anh T và chị Ch đã sống ly thân với nhau từ tháng 5 năm 2018 đến nay. Tại phiên tòa, anh Ngô Văn T vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với chị Bùi Thị Ch. Chị Bùi Thị Ch không đồng ý ly hôn với anh Ngô Văn T, chị Ch yêu cầu được đoàn tụ.

- Về con chung: Anh Ngô Văn T và chị Bùi Thị Ch không có con chung, anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Anh Ngô Văn T và chị Bùi Thị Ch thống nhất tự thỏa thuận, anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh T xin rút lại yêu cầu chia tài sản chung là 10 công đất tầm lớn tọa lạc tại ấp Bào K, xã Lương Thế Tr, huyện CN, tỉnh CM.

- Về nợ chung: Anh Ngô Văn T và chị Bùi Thị Ch thống nhất tự thỏa thuận, anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

TÒA ÁN NHẬN ĐỊNH:

[1] Tranh chấp giữa Anh Ngô Văn T và chị Bùi Thị Ch là tranh chấp Hôn nhân và gia đình về việc ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Chị Ch có địa chỉ tại ấp Bào Kè, xã Lương Thế Trân, huyện CN, tỉnh CM. Do đó, Tòa án nhân dân huyện CN thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung tranh chấp của vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy:

Về hôn nhân: Anh Ngô Văn T và chị Bùi Thị Ch kết hôn vào năm 2006, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Lương Thế Trân, huyện CN, tỉnh CM. Do đó, hôn nhân của anh T và chị Ch là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Tại phiên tòa, anh T vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với chị Ch. Chị Ch không đồng ý ly hôn, chị Ch yêu cầu được đoàn tụ, anh T không đồng ý đoàn tụ. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn của anh T và chị Ch thực sự có xảy ra trong thời gian dài không thể hàn gắn được, anh T và chị Ch đã sống ly thân với nhau từ tháng 5 năm 2018. Mục đích hôn nhân của anh T và chị Ch không đạt được nên chấp nhận cho anh Ngô Văn T ly hôn với chị Bùi Thị Ch là phù hợp.

Về con chung: Anh Ngô Văn T và chị Bùi Thị Ch thống nhất xác định không có con chung, anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung: Anh Ngô Văn T và chị Bùi Thị Ch thống nhất tự thỏa thuận, anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh T xin rút lại yêu cầu chia tài sản chung là 10 công đất tầm lớn tọa lạc tại ấp Bào Kè, xã Lương Thế Trân, huyện CN, tỉnh CM. Xét thấy việc rút lại một phần yêu cầu về việc chia tài sản chung của anh T là hoàn T tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Anh Ngô Văn T và chị Bùi Thị Ch thống nhất tự thỏa thuận, anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Nếu sau này giữa anh Ngô Văn T và chị Bùi Thị Ch có phát sinh tranh chấp về tài sản chung, nợ chung thì có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác theo quy định của pháp Luật.

[3] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm các đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYEÁT ÑÒNH:

Căn cứ: Các Điều 28; 35; 39; 147, 218, 227, 244, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Caùc Đieàu 9, 53, 56, 57 Luaät hoân nhaân vaø gia ñình naêm 2014;

Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyeân xöû:

Về hôn nhân: Chấp nhận cho anh Ngô Văn T được ly hôn với chị Bùi Thị Ch.

Đình chỉ yêu cầu của anh Ngô Văn T về việc chia tài sản chung là phần đất 10 công tầm lớn, tọa lạc tại ấp Bào K, xã Lương Thế Tr, huyện CN, tỉnh CM.

Về án phí hoân nhaân vaø gia ñình sô thaåm: Anh Ngô Văn T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng. Anh T có dự nộp số tiền tạm ứng án phí là 670.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0004732 ngày 10 – 9 – 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện CN, sau khi đối trừ anh T được nhận lại số tiền 370.000 đồng, nhận tại Chi cục thi hành án dân sự huyện CN khi án có hiệu lực pháp luật. Chị Bùi Thị Ch không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai anh Ngô Văn T và chị Bùi Thị Ch có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ