vanban.org

Bản án 214/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 07/08/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Lâm Nhật H, Nguyễn Chí T phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”.

1. Căn cứ khoản 1 Điều 157; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lâm Nhật H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. 2. Căn cứ khoản 1 Điều 157; điểm i, s kh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bn - bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (điều 157 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lâm Nhật H, Nguyễn Chí T phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 157 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12 – TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 214/2026/HS-ST
Ngày 07/8/2026

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Nguyện.

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Hiệp.

2. Bà Phạm Thị Thúy Hằng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trúc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Nhiều – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 182/2026/TLST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 190/2026/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 7 năm 2026, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Lâm Nhật H; sinh năm 1998, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: ấp P, xã P, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: phụ giúp gia đình; trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: nam; Tôn giáo: không có; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lâm Văn P và bà Nguyễn Thị E; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không có, bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/3/2026, đến ngày 03/7/2026 được thay đổi bằng biện pháp bảo lĩnh; có mặt.

2. Họ và tên: Nguyễn Chí T; sinh năm 1993, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: ấp P, xã P, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: tài xế; trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: nam; Tôn giáo: không có; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và bà Lê Thị Ngọc Đ; vợ: Nguyễn Thị Yến D, con: có 01 người; tiền án, tiền sự: không có, bị cáo tại ngoại; có mặt.

* Bị hại: Anh Nguyễn Tấn D1, sinh năm 2001; địa chỉ: khóm K, phường B, tỉnh Khánh Hòa, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Lâm Nhật H làm nghề đưa đón khách, để thu hút khách, H đăng bài viết trên mạng xã hội nhận đón khách từ Tây Ninh đi sân bay T, S và các tỉnh Miền Tây. Khoảng 00 giờ ngày 21/3/2026, người đàn ông (không xác định lai lịch) sử dụng tài khoản telegram "Messi taxi bavet mb 24/7" gọi vào telegram "Banh Bao” của H đặt xe đón khách từ xã P, tỉnh Tây Ninh đi quận B, Thành phố Hồ Chí Minh với giá tiền 1.300.000 đồng, H đồng ý, nên người đàn ông hướng dẫn H đến địa điểm gần ngã tư T chạy về hướng chốt R khoảng 200 mét, có bãi đất trống bên tay trái hướng đi sẽ có khách đứng đợi. Lúc này, H điện thoại cho Huỳnh Văn H1 để thuê xe ôtô, H1 nói giá tiền 1.000.000 đồng, H đồng ý thuê và kêu H1 chạy đến nhà của H rước H rồi cùng nhau đi rước khách. H1 liên hệ cho Nguyễn Chí T là tài xế đến nhà H1 lấy xe ôtô biển số 70A-475.24 để rước H đi đón khách. T đến nhà H1 điều khiển xe ôtô một mình đi rước H, H chỉ đường cho T đến địa điểm rước khách là khu đất trống thuộc ấp P, xã P, tỉnh Tây Ninh gặp anh Nguyễn Tấn D1, H hỏi D1 “có phải về Thành phố Hồ Chí Minh không”, D1 trả lời “đúng", H kêu T chở H và D1 đi B, Thành phố Hồ Chí Minh, khi đi được một đoạn thì người đàn ông sử dụng tài khoản telegram gọi vào telegram của H kêu H khoan chở D1 đi B vì gia đình của D1 chưa chuyển tiền trả cho người đàn ông này (H không biết nội dung chuyển tiền gì, số tiền bao nhiêu), H kêu T chở D1 quay về nhà H tại ấp P, xã P, tỉnh Tây Ninh. Khoảng 02 giờ ngày 21/3/2026, về đến nhà của H, T dừng xe bên hông nhà, T, H, D1 vẫn còn ngồi trên xe ôtô thì người đàn ông sử dụng tài khoản telegram tiếp tục gọi vào telegram của H kêu H tìm vật gì xích giữ D1 lại, giữ điện thoại và đánh hù dọa để D1 không bỏ trốn, đến khi người này điện thoại cho H thì sẽ trả điện thoại và chở D1 về B. Sau đó, H đi vào phòng ngủ của H lấy 01 còng số 8 bằng kim loại (Hào mua trên mạng trước đó) đi ra xe ô tô lên ngồi ghế sau bên cạnh chỗ D1 ngồi, T cũng đang ngồi trên ghế tài xế xe ôtô, H dùng tay đánh nhẹ vào mặt của D1, mục đích hù dọa để D1 không bỏ trốn. Lúc này, H cầm còng số 8 bằng tay phải móc vào tay nắm trên trần ghế sau của xe ôtô, tay trái nắm lấy tay trái của D1 giơ lên, đưa vào phần còn lại còng số 8 còng Dầu lại, H kêu T hạ hai kính chắn gió bên hông chỗ ghế tài xế và ghế phụ xuống cho có không khí vào, T đồng ý thực hiện theo yêu cầu của H. Cùng lúc này, H kêu D1 đưa điện thoại của D1 cho H giữ vì sợ Dầu trình báo Công an, H nói “có gì đến sáng, H sẽ trả lại điện thoại và chở D1 về B, Thành phố Hồ Chí Minh”, thì D1 đồng ý đưa cho H 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 promax. Sau đó, H kêu T lấy xe môtô của H chạy về nhà T để ngủ. Khi nào H điện thoại thì T đến chở H và D1 đi B, Thành phố Hồ Chí Minh. T đồng ý đưa chìa khóa xe ôtô cho H giữ rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà, H vào nhà lấy cái gối nhỏ kê đầu đem ra xe ô tô đưa cho D1 ngủ, H cũng đi vào nhà ngủ. Lúc này, D1 sử dụng điện thoại di động mà D1 cất giấu trên người để liên lạc Công an cầu cứu. Đến khoảng 05 giờ 30 phút cùng ngày, lực lượng Công an xã P đến nhà H phát hiện D1 bị còng tay giữ trên xe ôtô. Vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T để làm rõ. Qua điều tra, H, T thừa nhận hành vi phạm tội như nêu trên.

Quá trình điều tra, Lâm Nhật H, Nguyễn Chí T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Bị hại có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt.

- Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: 01 còng số 8, 01 chìa khóa còng; 01 điện thoại di động Iphone 17 Promax, số Imei: 357218978415674; số Emei 2: 357218978255583, gắn sim số thuê bao 0784567157; 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax, số Imei: 353899105048506; số Emei 2: 353899105179392, gắn sim số thuê bao 0982799052.

- Phần dân sự: Bị hại Nguyễn Tấn D1 không yêu cầu bồi thường.

Cáo trạng số: 88/CT-VKSKV12 ngày 29/6/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Tây Ninh đã truy tố các bị cáo Lâm Nhật H, Nguyễn Chí T về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm,

Các bị cáo đã thành khẩn thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Tây Ninh giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Lâm Nhật H, Nguyễn Chí T phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”.

- Căn cứ khoản 1 Điều 157; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lâm Nhật H mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.

- Căn cứ khoản 1 Điều 157; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí T mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.

Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ vào các Điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo nói lời nói sau cùng:

Bị cáo H: Trong thời gian tạm giam, bị cáo đã ăn năn, hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình, xã hội.

Bị cáo T: Bị cáo đã ăn năn, hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của các bị cáo thể hiện: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo phù hợp với biên bản thực nghiệm hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra, lời khai của bị hại, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có cơ sở xác định: Khoảng hơn 02 giờ ngày 21/3/2026 tại khu vực ấp P, xã P, tỉnh Tây Ninh, Lâm Nhật H, Nguyễn Chí T thực hiện hành vi bắt, giữ anh Nguyễn Tấn D1 trái pháp luật thì bị phát hiện. Do đó, hành vi của các bị cáo Lâm Nhật H, Nguyễn Chí T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Bắt giữ người trái pháp luật”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Hình sự. Nên cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng, nhưng hành vi của các bị cáo trực tiếp xâm phạm đến đến quyền tự do thân thể của con người được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của các bị cáo là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Do đó, khi quyết định hình phạt cần áp dụng cho các bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội mới có đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về đồng phạm và vai trò của từng bị cáo:

Về đồng phạm: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội không có sự cấu kết chặt chẽ, không có phân công vai trò nhiệm vụ rõ ràng nên hành vi của các bị cáo mang tính chất đồng phạm giản đơn.

Về vai trò của từng bị cáo: Bị cáo H là người trực tiếp dùng còng số 8 bắt giữ và có hành vi đánh hù dọa anh D1 nên bị cáo H phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn bị cáo T.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, xét thấy: Các bị cáo H, T phạm tội không có tổ chức, chỉ là đồng phạm giản đơn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị hại là anh Nguyễn Tấn D1 là người đang bị truy nã về hành vi “Cố ý gây thương tích”, sau sự việc này, thì anh D1 cũng đã bị bắt và tạm giam để phục vụ công tác điều tra, anh D1 cũng nhận thức được anh D1 có lỗi nên có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Mặt khác, các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên khi quyết định hình phạt không cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về các biện pháp tư pháp:

Về trách nhiệm bồi thường: Bị hại anh Nguyễn Tấn D1 không yêu cầu bồi thường nên ghi nhận.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 còng số 8, 01 chìa khóa còng là công cụ để bị cáo H thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị kinh tế nên cần tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động Iphone 17 Promax, số Imei: 357218978415674; số Emei 2: 357218978255583, gắn sim số thuê bao 0784567157 là của bị cáo Lâm Nhật H, bị cáo H dùng để liên lạc thực hiện hành vi bắt giữ người trái pháp luật, còn giá trị kinh tế nên cần tịch thu, sung vào Ngân sách Nhà nước.

- Đối với 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax, số Imei: 353899105048506; số Emei 2: 353899105179392, gắn sim số thuê bao 0982799052 là của bị cáo T, bị cáo T dùng để liên lạc cá nhân, không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo là phù hợp.

Về các đối tượng, hành vi có liên quan khác:

Đối với việc H yêu cầu D1 đưa điện thoại di động của D1 để H cất giữ, mục đích để D1 không trình báo Công an, H không có ý định chiếm đoạt; H cũng không biết Dầu nhập cảnh trái phép từ Campuchia vào Việt Nam nên không xem xét xử lý.

Đối với người đàn ông sử dụng tài khoản telegram “Messi taxi bavet mb 24/7”, không xác định được nhân thân, lý lịch, chưa làm việc được nên không có căn cứ xử lý.

Đối với Huỳnh Văn H1 chủ xe ô tô, H1 không biết việc H, T bắt, giữ người trái pháp luật nên không xem xét xử lý.

Đối với hành vi của Nguyễn Tấn D1 qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục nhập cảnh, Công an xã P đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Tây Ninh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Các bị cáo là người bị kết án nên mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Lâm Nhật H, Nguyễn Chí T phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”.

1.1. Căn cứ khoản 1 Điều 157; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lâm Nhật H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

1.2. Căn cứ khoản 1 Điều 157; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí T 01 (một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Lâm Nhật H, Nguyễn Chí T cho Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Tây Ninh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 87 Luật Thi hành án hình sự năm 2025.

“Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo đã bị kiểm điểm theo quy định tại Điều 86 của Luật Thi hành án hình sự nhưng sau khi kiểm điểm vẫn tiếp tục vi phạm và đã được nhắc nhở bằng văn bản mà vẫn cố ý vi phạm thì Công an cấp xã, đơn vị quân đội báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu tiến hành trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm quyền quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

2. Các biện pháp tư pháp: Căn cứ vào các Điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

2.1. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị hại anh Nguyễn Tấn D1 không yêu cầu bồi thường.

2.2. Về xử lý vật chứng:

- Tuyên tịch thu, tiêu hủy: 01 còng số 8, 01 chìa khóa còng.

- Tuyên tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone 17 Promax, số Imei: 357218978415674; số Emei 2: 357218978255583, gắn sim số thuê bao 0784567157.

- Trả cho bị cáo Nguyễn Chí T: 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax, số Imei: 353899105048506; số Emei 2: 353899105179392.

3. Án phí: Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

Các bị cáo Lâm Nhật H, Nguyễn Chí T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền tự thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 36 và 72 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 của Luật Thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ