vanban.org

Bản án 214/2024/KDTM-PT — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 05/09/2024 Kinh doanh thương mại Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 05/09/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Tranh châp về thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, tranh châp về đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 214/2024/KDTM-PT
Ngày: 05/9/2024
V/v Tranh châp về thực hiện nghĩa
vụ bảo lãnh, tranh châp về đòi lại tài
sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Lê Thị Quỳnh Anh

Các Thẩm phán:

Ông Đỗ Quốc Đạt

Bà Mai Thị Thanh Tú

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thu Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Tôn Mạnh Hùng - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Vào các ngày 22/7, 06/8, 04/9 và 05/9/2024, tại trụ sơ Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, số 131 đường Nam Kỳ Khơi Nghĩa, phường Bên Thành, Quân 1 (nay là phường Bên Thành), Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 115/KDTM-PT ngày 16/4/2024 về việc “Tranh châp về thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, tranh châp về đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại”.

Do bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 93/2023/KDTM-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân Quân 3, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyêt định đưa vụ án ra xét xử số 2321/2024/QĐPT-KDTM ngày 04 tháng 5 năm 2024; Các Quyêt định hoãn phiên tòa số 7397/2024/QĐ-PT ngày 30/5/2024 và số 9213/2024/QĐ-PT ngày 27/6/2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần A

Địa chỉ: Số 442 đường N, Phường 5, Quân 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Hồng T, sinh năm 1978; địa chỉ: 442 đường N, Phường 5, Quân 3, Thành phố Hồ Chí Minh; là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 925/UQ – BTGĐ.23 ngày 17/5/2023)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Các ông bà Phạm Công H (sinh năm 1955), Khưu Mỹ V (sinh năm 1975), Huỳnh S (sinh năm 1960), Phạm Công D (sinh năm 1982), Nguyễn Thị Bích T (sinh năm 1972, có đơn xin vắng mặt); là Luât sư của Công ty Luât trách nhiệm hữu hạn MTV C và Cộng sự thuộc Đoàn luât sư Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Đức K, sinh năm 1964; địa chỉ: 18+20 V2 Khu tâp thể G, phường C, quân B, Thành phố Hà Nội.

Hiện đang châp hành án tại trại giam T – Tổng cục VIII (Bộ Công an)

Người đại diện hợp pháp:

- Ông Vũ Xuân N, sinh năm 1963; địa chỉ: 48 đường Hoàng Ngọc P, phường L, quân Đ, Thành phố Hà Nội; là người đại diện theo ủy quyền (theo Giây ủy quyền lâp ngày 13/5/2023);

- Ông Phạm Đăng C, sinh năm 1976 và ông Võ Trung T, sinh năm 1990; cùng địa chỉ: 38 đường P, phường T, Quân 7, Thành phố Hồ Chí Minh; là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền cùng ngày 29/8/2024).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp:

- Bà Hà Thị Kim L, sinh năm 1991 và ông Nguyễn Đức H, sinh năm 1980; là Luât sư của Văn phòng luât sư P thuộc Đoàn Luât sư Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

3.1. Công ty Cổ phần Đầu tư A; địa chỉ: 71 đường Đ, Phường 15, quân B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Hòa H, sinh năm 1954; địa chỉ: 159/19 đường H, Phường 12, Quân 10, Thành phố Hồ Chí Minh; là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền lâp ngày 22/5/2023).

3.2. Công ty Cổ phần Đầu tư Thương mại B; địa chỉ: Số 63 đường L, phường P, quân Đ, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp: Ông Võ Trung T, sinh năm 1990; là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền lâp ngày 31/5/2023).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Nguyễn Đức H, sinh năm 1980 - Luât sư của Văn phòng luât sư P thuộc Đoàn Luât sư Thành phố Hồ Chí Minh.

3.3 Bà Đặng Ngọc L, sinh năm 1972; địa chỉ: 104 đường T, Phường L, Quân H, Thành phố Hà Nội;

Người đại diện hợp pháp: Ông Vũ Xuân N, sinh năm 1963 và ông Phạm Đăng C, sinh năm 1976; là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền lâp ngày 19/7/2024).

Người kháng cáo:

- Theo Đơn kháng cáo ngày 02/10/2023 của bị đơn ông Nguyễn Đức K và Đơn kháng cáo ngày 10/10/2023 của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Ngọc L đều kháng cáo yêu cầu câp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm số 93/2023/KDTM-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân Quân 3, Thành phố Hồ Chí Minh;

- Theo Đơn kháng cáo ngày 12/10/2023 của Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần Đầu tư Thương mại B yêu cầu câp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm 93/2023/KDTM-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân Quân 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Trong đơn khơi kiện, tại các bản khai, biên bản lây lời khai, biên bản đối chât, biên bản hòa giải và trong quá trình giải quyêt vụ án nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần A có người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Hồng T trình bày:

1.1 Yêu cầu khơi kiện của nguyên đơn như sau:

Ngày 10/12/2009, Ngân hàng Thương mại Cổ phần A (Sau đây gọi tắt là Ngân hàng A) và Công ty Cổ phần Đầu tư A (Sau đây gọi tắt là Công ty A) có ký Hợp đồng giao dịch trạng thái vàng số 004/GDTTV/HĐ với Ngân hàng A. Sau khi tât toán trạng thái vàng thì Công ty A phát sinh khoản nợ đối với Ngân hàng A.

Ngày 31/12/2013, Ngân hàng A và Công ty A đã ký Biên bản đối chiêu công nợ để xác định Công ty A phải thanh toán cho Ngân hàng A Khoản phải thu số tiền nợ gốc là 173.685.702.284 đồng và nợ lãi là 3.599.161.489 đồng (sau khi Công ty A đã thanh toán được 229.042.977.984 đồng).

Sau khi ký Biên bản đối chiêu công nợ ngày 31/12/2013, Ngân hàng A tiêp tục thu nợ của Công ty A được như sau:

- Ngày 25/4/2016, Ngân hàng A đã thu nợ Khoản phải thu số tiền 55.171.396.000 đồng từ tiền bán Cổ phần EIB của Công ty A.

- Ngày 25/4/2016, Ngân hàng A thu nợ Khoản phải thu số tiền 9.900.000.000 đồng từ tiền cổ tức của Công ty Cổ phần T.

- Ngày 28/4/2016, Ngân hàng A thu nợ Khoản phải thu số tiền 8.026.545.852 đồng theo Chứng thư bảo lãnh của ông Nguyễn Đức K ngày 15/03/2012 và Hợp đồng thê châp khoản phải thu số 01-KPT/ACB-ACI.16 ngày 04/4/2016 (do ông Nguyễn Đức K nợ Công ty A số tiền là 30.869.999.803 đồng).

- Ngày 29/4/2016, Ngân hàng A thu nợ Khoản phải thu số tiền 5.074.365.548 đồng theo Chứng thư bảo lãnh của ông Nguyễn Đức K ngày 15/03/2012 và Hợp đồng thê châp khoản phải thu số 01-KPT/ACB-ACI.16 ngày 04/4/2016.

- Ngày 01/6/2016, Ngân hàng A thu nợ Khoản phải thu số tiền 11.940.586.544 đồng theo Chứng thư bảo lãnh của ông Nguyễn Đức K ngày 15/03/2012 và Hợp đồng thê châp khoản phải thu số 01-KPT/ACB-ACI.16 ngày 04/4/2016.

- Ngày 16/3/2018, Ngân hàng A thu nợ Khoản phải thu số tiền 5.828.501.859 đồng theo Chứng thư bảo lãnh của ông Nguyễn Đức K ngày 15/03/2012 và Hợp đồng thê châp khoản phải thu số 01-KPT/ACB-ACI.16 ngày 04/4/2016.

Sau khi thu nợ như trên, Công ty A còn nợ Ngân hàng A số tiền phát sinh từ “Hợp đồng giao dịch trạng thái vàng” số 004/GDTTV/HĐ cụ thể: Nợ gốc là 77.744.306.481 đồng; nợ lãi là 3.599.161.489 đồng và hiện không còn tài sản đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ nào khác ngoài “Chứng thư bảo lãnh” ngày 15/3/2012 của ông Nguyễn Đức K. Do đó, Ngân hàng A yêu cầu Tòa án buộc bên bảo lãnh là ông K thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh theo “Chứng thư bảo lãnh” ngày 15/3/2012 trả cho Ngân hàng A toàn bộ số nợ gốc lãi nêu trên.

1.2. Ý kiên đối với yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Đức K như sau:

Đối với yêu cầu buộc nguyên đơn trả khoản tiền bán cổ phần EIB (Cổ phần của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuât nhâp khẩu Việt Nam) của ông K do bên mua thanh toán đợt 2 và đợt 3 thì Ngân hàng A căn cứ vào nguyên tắc của Ngân hàng A trong việc thu nợ từ số tiền bán cổ phần EIB để khâu trừ số tiền trên. Tại thời điểm bên mua thanh toán tiền mua cổ phần EIB đợt 2 (ngày 18/3/2016) và đợt 3 (ngày 18/3/2018), thì Công ty B và Công ty A đã có các khoản nợ quá hạn thanh toán đối với Ngân hàng A nên Ngân hàng A đã căn cứ vào quy định pháp luât gồm Điều 361 và Điều 369 Bộ luât Dân sự 2005; Điều 41 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 và các thỏa thuân cam kêt giữa các bên để thực hiện việc thu nợ như sau:

- Đối với 1.051.163 cổ phần EIB ông K đã dùng làm tài sản đảm bảo cho Ngân hàng A theo “Hợp đồng cầm cố tài sản” số HAN.DN.CC.02240312 và “Giây đề nghị phong tỏa chứng khoán” ngày 24/3/2012 để đảm bảo cho toàn bộ khoản nợ của ông K và Công ty B nên khi thu được tiền bán số cổ phiêu này Ngân hàng A đã thu nợ cho Công ty B theo đúng hợp đồng cầm cố trên.

- Đối với 6.712.147 cổ phần EIB ông K đã thê châp cho Ngân hàng A theo “Hợp đồng thê châp tài sản” ngày 15/8/2012 để đảm bảo cho toàn bộ khoản nợ của Công ty B và/hoặc của ông K nên khi thu được tiền bán cổ phiêu này Ngân hàng A đã thu nợ cho Công ty B theo đúng hợp đồng thê châp trên.

- Đối với số cổ phần EIB chưa cầm cố, thê châp, sau khi nhân được số tiền bán cổ phần thì Ngân hàng A đã thu nợ theo “Chứng thư bảo lãnh” của ông K.

Theo các Chứng thư bảo lãnh ngày 10/3/2012 và ngày 15/3/2012 do ông K ký thì ông K cam kêt chịu trách nhiệm trả thay cho Công ty B, Công ty A khi các công ty này không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ.

Do đó, căn cứ quy định pháp luât và các Chứng thư bảo lãnh do ông K ký thì khi Công ty B, Công ty A vi phạm nghĩa vụ trả nợ với Ngân hàng A thì ông K phải có nghĩa vụ trả nợ thay và Ngân hàng A có quyền tiên hành thu nợ cho Công ty B, Công ty A từ nguồn tiền bán Cổ phần EIB của ông K.

Chi tiêt thu nợ đối với số tiền bán Cổ phần EIB do bên mua thanh toán (thu đợt 2 và đợt 3) như sau: Đợt

Số tiền thanh

Nội dung thu nợ

Hợp đồng/văn bản bảo

toán

đảm

Số tiền thanh Đối với 6.712.147 CP Hợp đồng thê châp tài

toán đợt 2 là EIB Ngân hàng A đã sản ngày 15/8/2012.

Đợt 2 52.821.571.478 thê châp cho Ngân

đồng của hợp hàng A: Ngân hàng A

đồng

chuyển trích

35.806.619.386

nhượng

đồng để thu nợ của

9.901.693

cổ Công ty B.

phần EIB đứng

Đối với số CP EIB còn Chứng thư bảo lãnh

tên Ngân hàng

lại: Ngân hàng A đã ngày 15/3/2012 của ông

A (thông qua

trích số tiền còn lại là Nguyễn Đức K và Hợp

việc ủy thác

17.014.952.092 đồng đồng thê châp khoản

đầu tư).

để thu nợ cho Công ty phải

thu

số

01-

A tại Ngân hàng A.

KPT/ACB-ACI.16 ngày

04/4/2016.

Đối với 1.051.163 CP Hợp đồng cầm cố tài sản

EIB cầm cố cho Ngân số

Số tiền thanh

hàng A: Ngân hàng A HAN.DN.CC.02240312

toán đợt 2 là

đã trích 5.607.534.140 ngày 24/3/2012.

13.634.079.92

đồng để thu nợ cho

đồng của hợp

Công ty B.

đồng

chuyển

Đối với số CP EIB còn Chứng thư bảo lãnh

nhượng

lại: Ngân hàng A đã ngày 15/3/2012 của ông

2.555.783

cổ

trích số tiền còn lại là Nguyễn Đức K và Hợp

phần EIB đứng

8.026.545.852 đồng để đồng thê châp khoản

tên ông Nguyễn

thu nợ cho Công ty A phải

thu

số

01-

Đức K.

tại Ngân hàng A.

KPT/ACB-ACI.16 ngày

04/4/2016.

Sau khi trừ phí chuyển Chứng thư bảo lãnh

Số tiền thanh

nhượng, Ngân hàng A ngày 15/3/2012 của ông

toán đợt 3 là

đã

trích

số

tiền Nguyễn Đức K và Hợp

86.499.952.336

5.828.501.859 đồng để đồng thê châp khoản

đồng của hợp

thu nợ cho Công ty A phải

thu

số

01-

đồng

chuyển

tại Ngân hàng A.

KPT/ACB-ACI.16 ngày

nhượng

04/4/2016.

9.901.693

cổ

phần EIB đứng

Ngân hàng A đã trích Hợp đồng thê châp tài

tên Ngân hàng

số tiền còn lại là sản ngày 25/8/2012 và

A (thông qua

80.386.058.931 đồng Chứng thư bảo lãnh Đợt 3

việc ủy thác

để thu nợ cho Công ty ngày 10/03/2012 của

đầu tư).

B tại Ngân hàng A.

Nguyễn Đức K

Số tiền thanh Sau khi trừ phí chuyển Hợp đồng cầm cố tài sản

toán đợt 3 là nhượng, Ngân hàng A số

22.327.000.815 đã

trích HAN.DN.CC.02240312

đồng của hợp 22.265.496.933 đồng và Chứng thư bảo lãnh

đồng

chuyển để thu nợ cho Công ty ngày 10/03/2012 của

nhượng

B tại Ngân hàng A.

Nguyễn Đức K.

2.555.783

cổ

phần EIB đứng

tên ông Nguyễn

Đức K.

Về việc giải châp số cổ phần EIB của ông Nguyễn Đức K:

Việc ông Nguyễn Đức K cho rằng sau khi Ngân hàng A nhân được tiền từ bên mua nhưng không chuyển trả lại tiền cho ông K là giữ tài sản trái phép, trình bày này của ông K là chưa phù hợp, cụ thể như sau:

Ngày 18/3/2015, trên cơ sơ đề nghị của Bên Bán vào ngày 16/3/2015 và xác nhân của Bên Mua ngày 17/3/2015, Ngân hàng A đã có Công văn số 1353/CV-BTGĐ.15 gửi bà Đặng Ngọc L – đại diện Bên Bán và bà Trần Thị Hồng P – đại diện của Bên Mua để đồng ý về mặt nguyên tắc để các bên ký kêt Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần với tổng số lượng chuyển nhượng là 77.810.502 cổ phần với giá bán là 17.130 đồng cổ phần. Toàn bộ giá trị và lợi ích thu được từ việc chuyển nhượng trên được dùng để thanh toán hoặc cân trừ cho các nghĩa vụ nợ của bên bán tại Ngân hàng A.

Mục 2 Công văn 1353/CV-BTGĐ.15 cũng quy định việc giải châp như sau:

“2. Việc giải chấp số cổ phiếu EIB mà Bên Bán đang thế chấp tại Ngân hàng A làm tài sản bảo đảm cho các nghĩa vụ tài chính để Bên Bán thực hiện việc chuyển nhượng cổ phần theo quy định của pháp luật được thực hiện theo tiến độ sang tên chủ sở hữu do các bên thỏa thuận với Ngân hàng A theo nguyên tắc:

a. Trong thời hạn 45 ngày, kể từ ngày Bên Mua thanh toán toàn bộ số tiền Đợt 1 là 238.100.136.120 đồng (Hai trăm ba mươi tám tỷ một trăm triệu một trăm ba mươi sáu nghìn một trăm hai mươi đồng), các bên sẽ thực hiện các thủ tục để chuyển tên chủ sở hữu cổ phần EIB được mua bán, với số lượng cổ phần EIB được sang tên cho các Bên Mua không vượt quá 50% giá trị thanh toán Đợt 1 và tính theo đơn giá 15.300 đồng/cổ phần.

b. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày Bên Mua thanh toán toàn bộ số tiền Đợt 2 là 415.087.903.969 đồng (Bốn trăm mười lăm tỷ không trăm tám mươi bảy triệu chín trăm lẻ ba nghìn chín trăm sáu mươi chín đồng), các bên sẽ thực hiện các thủ tục để sang tên chủ sở hữu cổ phần EIB được mua bán, với số lượng cổ phần EIB được sang tên cho các Bên Mua được tính bằng tổng số cổ phần mua bán nhân với (x) 15.300 đồng/cổ phần nhân với (x) 30% chia cho (:) giá thị trường của cổ phần (giá tham chiếu) tại thời điểm sang tên nhưng không vượt quá 23.343.151 cổ phần.

c. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Bên Mua thanh toán toàn bộ số tiền Đợt 3 là 679.742.819.159 đồng (Sáu trăm bảy mươi chín tỷ bảy trăm bốn mươi hai triệu tám trăm mười chín nghìn một trăm năm mươi chín đồng), các bên sẽ thực hiện các thủ tục để chuyển tên chủ sở hữu tất cả cổ phần EIB được mua bán chưa được sang tên cho Bên Mua.”

Như vây, Ngân hàng A chỉ đồng ý về nguyên tắc việc chuyển nhượng tài sản bảo đảm là Cổ phần EIB và việc giải châp chỉ được thực hiện theo tiên độ thanh toán theo nguyên tắc đã được thống nhât như trên. Do đó, việc Ngân hàng A dùng toàn bộ số tiền thu được từ việc chuyển nhượng tài sản bảo đảm để thu nợ là phù hợp với thỏa thuân cũng như quy định của pháp luât.

Do đó, Ngân hàng A kính đề nghị Tòa án nhân dân Quân 3 xem xét tuyên bác toàn bộ yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Đức K và buộc ông K thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với khoản nợ của Công ty A với Ngân hàng A phát sinh theo Hợp đồng giao dịch trạng thái vàng với tổng số tiền là 81.343.467.970 đồng.

2. Tại các bản tự khai, biên bản lây lời khai, biên bản đối chât, biên bản hòa giải bị đơn ông Nguyễn Đức K có người đại diện theo ủy quyền là ông Vũ Xuân N trình bày:

2.1. Ý kiên đối với yêu cầu khơi kiện của nguyên đơn:

Ngân hàng A căn cứ vào Chứng thư bảo lãnh của ông K lâp ngày 15/3/2012 để khơi kiện ông K, buộc ông K phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trả nợ cho Ngân hàng A thay cho Công ty A. Tuy nhiên, Chứng thư bảo lãnh này hoàn toàn không có giá trị pháp lý thực hiện đối với bị đơn bơi các căn cứ sau:

- Chứng thư bảo lãnh ngày 15/3/2012 không phải là một chứng thư bảo lãnh tín dụng hợp pháp bơi chứng thư này không được câp có thẩm quyền/Cơ quan có thẩm quyền của Ngân hàng A phê duyệt châp thuân làm tài sản bảo đảm cho nghĩa vụ của Công ty A theo đúng quy trình nội bộ câp tín dụng của Ngân hàng A.

- Nội dung Chứng thư bảo lãnh ngày 15/3/2012 thể hiện rằng ông K chỉ có nghĩa vụ bảo lãnh cho nghĩa vụ Công ty A phát sinh từ hợp đồng tín dụng khi được Ngân hàng A câp tín dụng. Hợp đồng giao dịch trạng thái vàng số 004/GDTTV/HĐ ngày 10/12/2009 ký kêt giữa Ngân hàng A và Công ty A không phải là hoạt động câp tín dụng giữa Ngân hàng A với Công ty A. Nên các nghĩa vụ của Công ty A phát sinh từ Hợp đồng này không thuộc phạm vi được ông K bảo lãnh theo chứng thư đã nêu trên.

- Nêu Chứng thư bảo lãnh ngày 15/3/2012 có hiệu lực thì đây cũng chỉ là giao dịch của riêng của cá nhân ông K với Ngân hàng A. Trong Chứng thư bảo lãnh ngày 15/3/2012 không liệt kê tài sản nào dùng để bảo lãnh cho nghĩa vụ của Công ty A. Vì vây, theo qui định của Pháp luât về dân sự và hôn nhân gia đình thì phạm vi tài sản dùng để bảo lãnh cho nghĩa vụ của Công ty A chỉ bao gồm tài sản riêng của ông K, không bao gồm tài sản chung vợ chồng với bà Đặng Ngọc L (vợ ông K).

Vì vây, bị đơn đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khơi kiện của nguyên đơn.

2.2 Yêu cầu phản tố của bị đơn:

Cá nhân ông K sơ hữu và trực tiêp đứng tên 2.555.783 Cổ phần EIB. Ngoài ra, ông K còn sơ hữu 9.901.693 Cổ phần EIB thông qua ủy thác cho Ngân hàng A đầu tư theo Hợp đồng ủy thác đầu tư số 01/HDUTĐT – EIB.09 ngày 21/9/2009. Như vây tổng số lượng Cổ phần EIB mà ông K sơ hữu là 12.457.476 cổ phần.

Ông K có ký một số hợp đồng để cầm cố, thê châp một phần Cổ phần EIB do ông K sơ hữu, cụ thể như sau:

- Hợp đồng cầm cố tài sản số HAN.DN.CC.02240312 ngày 24/3/2012 v/v cầm cố 1.051.163 Cổ phần EIB (số cổ phần này thuộc sở hữu của ông K, do ông K trực tiếp đứng tên sở hữu) để bảo đảm cho nghĩa vụ của chính ông K (Bên cầm cố) với Ngân hàng A.

- Hợp đồng thê châp tài sản ngày 15/8/2012 để thê châp 6.712.147 Cổ phần EIB (số cổ phần này thuộc sở hữu của ông K thông qua ủy thác cho Ngân hàng A) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ của Công ty B đối với Ngân hàng A.

Tại Ngân hàng A, ông K chỉ có duy nhât một nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng trung – dài hạn số SHN.CN.04280808 ngày 30/8/2008. Ông K không còn bât kỳ nghĩa vụ nợ nào khác tại Ngân hàng A.

Ngày 15/3/2015, Ngân hàng A ký Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần số 07/EIB.14 để chuyển nhượng 9.901.693 cổ phần EIB (số cổ phiếu này thuộc sở hữu của ông K thông qua ủy thác cho Ngân hàng A) cho bà Dương Thị Duyên H với tổng giá trị chuyển nhượng là 169.620.704.394 đồng, việc thanh toán được chia làm 3 đợt.

Ngày 18/3/2015, vợ ông K – bà Đặng Ngọc L (theo ủy quyền của ông K) ký Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần số 01/EIB.15 chuyển nhượng 2.555.783 cổ phần EIB (số cổ phần này thuộc sở hữu của ông K, do ông K trực tiếp đứng tên) cho ông Hồ Hồng N với tổng giá trị chuyển nhượng là 43.781.776.787 đồng, việc thanh toán được chia làm 3 đợt.

Ngày 18/3/2015, Ngân hàng A có văn bản số 1353/CV-BTGĐ.15 gửi bà Đặng Ngọc L – đại diện các bên bán và bà Trần Thị Hồng P – đại diện các bên mua thông báo ý kiên của Ngân hàng A đối với giao dịch chuyển nhượng 77.810.502 cổ phần EIB (trong đó có 12.457.476 cổ phần EIB của ông K). Văn bản này được bà L và bà P ký xác nhân. Nội dung văn bản:

“1. Đồng y cho các bên bán chuyển nhượng cổ phần EIB cho các bên mua với các điều kiện như sau:

a.Số lượng: 77.810.502 CP

b.Giá bán: 17.130 đồng/CP

c.Thời hạn thanh toán:

+ Việc thanh toán chuyển nhượng trên phải được thực hiện qua tài khoản của các bên bán mở tại Ngân hàng A.

…

4. Toàn bộ giá trị và lợi ích thu được từ việc chuyển nhượng trên được dung để thanh toán hoăc cấn trừ cho các nghĩa vụ nợ của bên bán tại Ngân hàng A. Thời gian thực hiện thanh toán hoăc cấn trừ nợ sẽ do Ngân hàng A quyết định và thông báo cho bên bán”.

Bà Dương Thị Duyên H đã thanh toán đầy đủ số tiền theo hợp đồng chuyển nhượng cổ phần là 169.620.704.394 đồng, cụ thể:

- Đợt 1 (năm 2015): thanh toán 30.229.180.580 đồng;

- Đợt 2 (18/3/2016): thanh toán 52.821.571.478 đồng;

- Đợt 3 (18/3/2018): thanh toán 86.499.952.336 đồng.

Ông Hồ Hồng N cũng đã thanh toán đầy đủ số tiền theo hợp đồng chuyển nhượng cổ phần là 43.781.776.787 đồng, cụ thể:

- Đợt 1 (năm 2015): thanh toán 7.820.695.980 đồng;

- Đợt 2 (18/3/2016): thanh toán 13.634.079.992 đồng;

- Đợt 3 (18/3/2018): thanh toán 22.327.000.815 đồng;

Đối với số tiền bà H và ông N đã thanh toán theo đợt 1, tổng số tiền là 38.119.876.560 đồng, sau khi nhân được tiền của Bên mua, Ngân hàng A đã chuyển tiền về tài khoản cá nhân của ông K, rồi sau đó thu số tiền này cho nghĩa vụ nợ của ông K theo Hợp đồng tín dụng trung – dài hạn số SHN.CN.04280808 ngày 30/8/2008.

Tuy nhiên, bắt đầu từ đợt thanh toán thứ 2, Ngân hàng A đã không chuyển tiền về tài khoản cá nhân của ông K nữa, và cũng không thông báo cho ông K biêt đã sử dụng tiền này vào mục đích gì.

Cho đên khi ông K khơi kiện Ngân hàng A tại Tòa án nhân dân Quân 3, Thành phố Hồ Chí Minh theo Đơn khơi kiện ngày 24/10/2016 thì Ngân hàng A mới có lời khai tại Tòa về việc sử dụng số tiền bán cổ phiêu EIB như sau:

- Đối với số tiền thanh toán đợt 2:

+ Bà H thanh toán 52.821.571.478 đồng: Ngân hàng A thu 35.806.619.386 đồng cho nghĩa vụ của Công ty B; thu 17.014.952.092 đồng cho nghĩa vụ của Công ty A.

+ Ông N thanh toán 13.634.079.992 đồng: Ngân hàng A thu 5.607.534.140 đồng cho nghĩa vụ của Công ty B; thu 8.026.545.852 đồng cho nghĩa vụ của Công ty A.

- Đối với số tiền thanh toán đợt 3:

+ Bà H thanh toán 86.499.952.336 đồng: Ngân hàng A thu 80.386.058.931 đồng cho nghĩa vụ của Công ty B, thu 5.828.501.859 đồng cho nghĩa vụ của Công ty A.

+ Ông N thanh toán 22.327.000.815 đồng: Ngân hàng A thu 22.265.496.933 đồng cho nghĩa vụ của Công ty B.

Ngân hàng A đã thu tổng cộng 144.065.709.390 đồng cho nghĩa vụ của Công ty B phát sinh từ Hợp đồng giao dịch trạng thái vàng số 014/GDTTV/HĐ ngày 10/12/2009, căn cứ vào các văn bản và hợp đồng sau:

- Hợp đồng cầm cố tài sản số HAN.DN.CC.00240312 ngày 24/3/2012;

- Hợp đồng thê châp tài sản ngày 15/8/2012;

- Chứng thư bảo lãnh ngày 10/3/2012 bảo lãnh cho Công ty B.

Ngân hàng A đã thu 30.869.999.803 đồng cho nghĩa vụ của Công ty A phát sinh từ Hợp đồng giao dịch trạng thái vàng số 004/GDTTV/HĐ ngày 10/12/2009 căn cứ vào các văn bản và hợp đồng sau:

- Chứng thư bảo lãnh ngày 15/3/2012 về việc ông K bảo lãnh cho Công ty A;

- Hợp đồng thê châp khoản phải thu số 01-KPT/ACB-ACI.16 ngày 04/4/2016 giữa Ngân hàng A và Công ty A về việc Công ty A thê châp khoản phải thu 30.869.999.803 đồng từ ông K cho Ngân hàng A.

Theo ông K thì tât cả các hợp đồng cầm cố, thê châp đều được ký từ trước. Sau khi Ngân hàng A đồng ý giải châp cổ phiêu để bán cho bên thứ ba, Ngân hàng A và ông K mới có văn bản số 1353/CV-BTGĐ.15 ngày 18/3/2015 thỏa thuân sử dụng tiền bán Cổ phiêu EIB để trừ nợ cho ông K tại Ngân hàng A. Vì vây thỏa thuân tại văn bản số 1353/CV-BTGĐ.15 ngày 18/3/2015 phải được ưu tiên thực hiện trước các hợp đồng cầm cố, thê châp đã ký từ trước đó.

Trong văn bản số 1353/CV-BTGĐ.15 ngày 18/3/2015, Ngân hàng A và ông K (đại diện theo ủy quyền là bà L) đã có thỏa thuân về việc số tiền bán Cổ phần EIB se được dùng để thu cho nghĩa vụ nợ của bên bán tại Ngân hàng A. Bên bán là ông K chỉ có duy nhât 1 nghĩa vụ nợ tại Ngân hàng A phát sinh từ Hợp đồng tín dụng trung – dài hạn số SHN.CN.04280808 ngày 30/8/2008. Sau khi thu được tiền bán Cổ phần EIB, khi Ngân hàng A nhân được tiền từ bên mua mà không chuyển trả lại tiền cho ông K, không trừ nợ cho ông K mà lại sử dụng vào mục đích khác thì Ngân hàng A đã vi phạm thỏa thuân.

Việc Ngân hàng A giữ tiền của ông K và không thu nợ cho ông K theo Hợp đồng tín dụng trung – dài hạn số SHN.CN.04280808 ngày 30/8/2008 đã làm ông K bị thiệt hại một khoản tiền do bị tính lãi vay. Cụ thể:

- Ngày 18/3/2016, ông K được bên mua thanh toán tiền đợt 2.

- Ngày 30/8/2016 là hạn thanh toán một phần tiền gốc 19.167.000.000 đồng và lãi đối với phần nợ gốc 19.167.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng trung – dài hạn số SHN.CN.04280808 ngày 30/8/2008.

Mặc dù ông K có nguồn tài chính là số tiền bán Cổ phần EIB, Ngân hàng A đang giữ tiền của ông K nhưng Ngân hàng A không thu nợ cho ông K. Lúc này, tổng dư nợ của ông K là 43.726.534.766 đồng, trong khi tổng số tiền bán Cổ phần EIB đợt 2 mà ông K có được là 66.455.651.470 đồng, thừa để thanh toán hêt toàn bộ nợ gốc. Vì Ngân hàng A không thu nợ đúng hạn nên ông K tiêp tục bị tính lãi trên dư nợ gốc, và còn bị tính lãi quá hạn đối với phần nợ gốc đên hạn nhưng chưa trả.

- Ngày 25/4/2017, Ngân hàng A có văn bản số 423/CV/ACB-CNTL.17 thông báo thu hồi nợ trước hạn và bắt đầu tính lãi quá hạn trên toàn bộ dư nợ gốc 43.726.534.766 đồng từ ngày 25/5/2017.

- Ngày 18/3/2018, ông K được bên mua thanh toán tiền đợt 3. Mặc dù ông K có nguồn tài chính là số tiền bán Cổ phần EIB, Ngân hàng A đang giữ tiền của ông K nhưng Ngân hàng A tiêp tục không thu nợ cho ông K.

Sau đó, giữa ông K và Ngân hàng A có tranh châp về Hợp đồng tín dụng trung – dài hạn số SHN.CN.04280808 ngày 30/8/2008. Tranh châp về Hợp đồng tín dụng giữa ông K và Ngân hàng A đã được Tòa án nhân dân quân Tây Hồ giải quyêt sơ thẩm bằng Bản án sơ thẩm số 04/2021/DS-ST ngày 05/02/2021, Bản án phúc thẩm số 172/2022/DS-PT ngày 31/5/2022. Hai bản án đã châp nhân toàn bộ yêu cầu khơi kiện của Ngân hàng A về việc buộc ông K phải thanh toán cho Ngân hàng A các khoản như sau: Tính đên ngày xét xử sơ thẩm ngày 05/02/2021 số tiền nợ gốc còn lại là 29.726.535.000 đồng; Nợ lãi trong hạn và lãi quá hạn là 81.998.611.000 đồng. Ngày kê tiêp sau ngày xét xử sơ thẩm, ông K tiêp tục chịu lãi suât đối với khoản nợ gốc theo mức lãi suât thỏa thuân có điều chỉnh của Hợp đồng tín dụng trung – dài hạn số SHN.CN.04280808 ngày 30/8/2008; khê ước nhân nợ số 01 ngày 30/8/2008 tương ứng với thời gian châm trả, cho đên khi thi hành xong nợ gốc.

Ngày 07/10/2022, Chi cục Thi hành án dân sự quân T có Quyêt định số 17/QĐ-CCTHADS quyêt định cho thi hành án đối với ông K. Các khoản phải thi hành: Tính đên ngày xét xử sơ thẩm ngày 05/02/2021 số tiền nợ gốc còn lại là 29.726.535.000 đồng; Nợ lãi trong hạn và lãi quá hạn là 81.998.611.000 đồng. Ngày kê tiêp sau ngày xét xử sơ thẩm, ông K tiêp tục chịu lãi suât đối với khoản nợ gốc theo mức lãi suât thỏa thuân có điều chỉnh của Hợp đồng tín dụng trung – dài hạn số SHN.CN.04280808 ngày 30/8/2008; khê ước nhân nợ số 01 ngày 30/8/2008 tương ứng với thời gian châm trả, cho đên khi thi hành xong nợ gốc.

Đên ngày 13/6/2023, ông K và bà L đã thi hành án xong Quyêt định thi hành án của Chi cục THADS quân T, tổng số tiền đã thi hành là 123.944.113.949 đồng (bằng chữ: một trăm hai mươi ba tỷ, chín trăm bốn mươi bốn triệu, một trăm mười ba nghìn, chín trăm bốn chín đồng), trong đó nợ gốc là 29.726.535.000 đồng, nợ lãi là 94.217.578.949 đồng.

Đối với khoản nợ gốc đã trả là 29.726.535.000 đồng của Hợp đồng tín dụng, thì ông K không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Đối với khoản nợ lãi đã trả 94.217.578.949 đồng của Hợp đồng tín dụng, ông K yêu cầu Ngân hàng A phải bồi thường thiệt hại cho ông K vì Ngân hàng A không dùng tiền bán Cổ phần EIB thu nợ cho ông K nên ông K phải chịu tiền lãi kéo dài. Ông K yêu cầu Ngân hàng A phải bồi thường thiệt hại số tiền tương đương với khoản nợ lãi tính từ thời điểm “Bên Mua” thanh toán tiền Cổ phần EIB cho đên thời điểm ông K thi hành án xong Quyêt định thi hành án của Chi cục thi hành án dân sự quân T.

Trong số tiền 94.217.578.949 đồng nợ lãi có 57.089.903.246 đồng là nợ lãi phát sinh từ trước thời điểm “Bên Mua” thanh toán tiền Cổ phần EIB đợt 2. Ông K không đòi thiệt hại khoản nợ lãi này.

Còn lại 37.127.675.703 đồng (94.217.578.949 đồng – 57.089.903.246 đồng) là khoản nợ lãi phát sinh sau thời điểm “Bên Mua” thanh toán tiền Cổ phần EIB đợt 2. Ông K cho rằng nêu như Ngân hàng A dùng tiền bán Cổ phần EIB đợt 2 là 66.455.651.470 đồng để thu hêt nợ gốc 43.726.534.766 đồng cho ông K thì ông K đã không phải chịu khoản lãi 37.127.675.703 đồng này, đây là số thiệt hại của ông K.

Do đó, ông K có các yêu cầu phản tố đối với Ngân hàng A như sau:

- Buộc Ngân hàng A phải trả lại cho ông K số tiền thanh toán đợt hai và đợt ba theo hai hợp đồng chuyển nhượng Cổ phần EIB, tổng số tiền là 174.935.709.193 đồng (144.065.709.390 đồng + 30.869.999.803 đồng) (bằng chữ: một trăm bảy tư tỷ, chín trăm ba lăm triệu, bảy trăm linh chín nghìn, một trăm chín ba đồng).

- Buộc Ngân hàng A phải bồi thường thiệt hại cho ông K một khoản tiền bằng đúng khoản tiền lãi (trong hạn và quá hạn) mà ông K phải chịu theo Hợp đồng tín dụng trung – dài hạn số SHN.CN.04280808 ngày 30/8/2008 tính từ thời điểm “Bên Mua” thanh toán tiền Cổ phần EIB đợt 2 cho đên thời điểm ông K thi hành án xong Quyêt định thi hành án của Chi cục thi hành án dân sự quân T là 37.127.675.703 đồng (bằng chữ: ba bảy tỷ, một trăm hai bảy triệu, sáu trăm bảy lăm nghìn, bảy trăm linh ba đồng).

Tổng số tiền yêu cầu Ngân hàng A trả lại và bồi thường thiệt hại tạm tính đên ngày 08/5/2023 là 212.063.384.896 đồng (bằng chữ: hai trăm mười hai tỷ, không trăm sáu ba triệu, ba trăm tám tư nghìn, tám trăm chín sáu đồng).

3. Tại các bản tự khai, biên bản lây lời khai, biên bản đối chât, biên bản hòa giải, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần Đầu tư A (Công ty A) có ông Nguyễn Hòa H đại diện trình bày:

Ngày 10/12/2009, Công ty A có ký Hợp đồng giao dịch trạng thái vàng số 004/GDTTV/HĐ với Ngân hàng A. Sau khi tât toán trạng thái vàng thì Công ty A phát sinh khoản nợ đối với Ngân hàng A số tiền là 402.728.680.268 đồng.

Sau khi đã thu hồi được một phần nợ, ngày 31/12/2013 Ngân hàng A và Công ty A ký Biên bản đối chiêu công nợ để xác định Công ty A phải thanh toán cho Ngân hàng A Khoản phải thu số tiền nợ gốc là 173.685.702.284 đồng và nợ lãi là 3.599.161.489 đồng (do Công ty A đã thanh toán 229.042.977.984 đồng). Sau khi ký bản đối chiêu công nợ ngày 31/12/2012, Ngân hàng A đã thu nợ đối với Công ty A như sau:

- Ngày 25/4/2016, Ngân hàng A đã thu nợ Khoản phải thu số tiền 55.171.396.000 đồng từ tiền bán Cổ phần EIB của Công ty A.

- Ngày 25/4/2016. Ngân hàng A thu nợ Khoản phải thu số tiền 9.900.000.000 đồng từ tiền cổ tức của Công ty Cổ phần T.

- Ngày 28/4/2016, Ngân hàng A thu nợ Khoản phải thu số tiền 8.026.545.852 đồng theo Chứng thư bảo lãnh của ông Nguyễn Đức K ngày 15/03/2012 và Hợp đồng thê châp khoản phải thu số 01-KPT/ACB-ACI.16 ngày 04/4/2016 (do ông Nguyễn Đức K nợ Công ty A số tiền là 30.869.999.803 đồng).

- Ngày 29/4/2016, Ngân hàng A thu nợ Khoản phải thu số tiền 5.074.365.548 đồng theo Chứng thư bảo lãnh của ông Nguyễn Đức K ngày 15/03/2012 và Hợp đồng thê châp khoản phải thu số 01-KPT/ACB-ACI.16 ngày 04/4/2016.

- Ngày 01/6/2016, Ngân hàng A thu nợ Khoản phải thu số tiền 11.940.586.544 đồng theo Chứng thư bảo lãnh của ông Nguyễn Đức K ngày 15/3/2012 và Hợp đồng thê châp khoản phải thu số 01-KPT/ACB-ACI.16 ngày 04/4/2016.

- Ngày 16/3/2018, Ngân hàng A thu nợ Khoản phải thu số tiền 5.828.501.859 đồng theo Chứng thư bảo lãnh của ông Nguyễn Đức K ngày 15/3/2012 và Hợp đồng thê châp khoản phải thu số 01-KPT/ACB-ACI.16 ngày 04/4/2016.

Sau khi thu nợ như trên thì Công ty A còn nợ Ngân hàng A số tiền gốc là 77.744.306.481 đồng và lãi là 3.599.161.489 đồng và hiện nay Công ty A không còn tài sản bảo đảm nào ngoài Thư bảo lãnh của ông K nên đề nghị Quý Tòa yêu cầu ông K thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh để trả nợ thay cho Công ty A.

4. Tại các bản tự khai, biên bản hòa giải, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần Đầu tư Thương mại B (Công ty B) có ông Võ Trung T đại diện theo ủy quyền trình bày:

Thứ nhât, Công ty B và ông Nguyễn Đức K không ký kêt bât kỳ thỏa thuân nào liên quan tới việc ông Nguyễn Đức K se bảo lãnh cho Công ty B đối với các nghĩa vụ (nếu có) của Công ty B tại Ngân hàng A.

Thứ hai, Công ty B không biêt việc ông Nguyễn Đức K có phát hành “Chứng thư bảo lãnh” ngày 10/3/2012 để bảo lãnh cho nghĩa vụ của Công ty B tại Ngân hàng A.

5. Tại các bản tự khai, biên bản hòa giải, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Đặng Ngọc L có ông Vũ Xuân N đại diện theo ủy quyền trình bày: Như nội dung ông K đã trình bày ơ trên và đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khơi kiện của nguyên đơn và châp nhân toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn.

6. Tại bản án sơ thẩm đã tuyên:

1. Châp nhân toàn bộ yêu cầu khơi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần A.

1.1 Buộc bị đơn ông Nguyễn Đức K phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh theo Chứng thư bảo lãnh ngày 15/3/2012 đối với khoản nợ gốc, lãi của Công ty Cổ phần Đầu tư A phát sinh từ Hợp đồng giao dịch trạng thái vàng số 004/GDTTV/HĐ ngày 10/12/2009 và các phụ lục đính kèm được ký kêt giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần A và Công ty Cổ phần Đầu tư A.

1.2 Ông Nguyễn Đức K có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần A số nợ gốc 77.744.306.484 đồng, nợ lãi 3.599.161.489 đồng. Tổng cộng gốc lãi là 81.343.467.973 đồng. Việc trả tiền được thực hiện một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luât.

1.3 Kể từ ngày Ngân hàng Thương mại Cổ phần A có đơn yêu cầu thi hành án nêu ông Nguyễn Đức K châm thi hành khoản tiền nêu trên thì còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suât nợ quá hạn trung bình trên thị trường tương ứng với thời gian, số tiền châm thi hành.

2. Không châp nhân toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Đức K:

2.1 Không châp nhân yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Đức K về việc buộc nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần A phải trả lại số tiền 174.935.709.193 đồng (là số tiền Ngân hàng A đã nhân thanh toán đợt 2 và đợt 3 của bên mua từ việc chuyển nhượng 9.901.693 Cổ phần EIB và 2.555.783 Cổ phần EIB)

2.2 Không châp nhân yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Đức K về việc buộc nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần A phải bồi thường thiệt hại số tiền 37.127.675.703 đồng.

Ngoài ra bản án còn tuyên về lãi suât châm thanh toán, án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

7. Tòa án nhân dân Quân 3 đã nhân được đơn kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Đức K vào ngày 04/10/2023; đơn kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Ngọc L vào ngày 11/10/2023 và đơn kháng cáo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần Đầu tư Thương mại B vào ngày 12/10/2023. Các đương sự kháng cáo đều kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, nội dung cụ thể như sau:

- Ông Nguyễn Đức K yêu cầu Tòa án câp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không châp nhân yêu cầu khơi kiện của Ngân hàng A và châp nhân toàn bộ yêu cầu phản tố của ông K.

- Bà Đặng Ngọc L yêu cầu Tòa án câp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không châp nhân toàn bộ yêu cầu khơi kiện của Ngân hàng A.

- Công ty Cổ phần Đầu tư Thương mại B yêu cầu Tòa án câp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.

8. Tại phiên tòa phúc thẩm:

Ông Nguyễn Đức K có các ông Vũ Xuân N, ông Phạm Đăng C và Võ Trung T đại diện theo ủy quyền, bà Đặng Ngọc L có ông Phạm Đăng C và ông Võ Trung T đại diện theo ủy quyền thay đổi kháng cáo yêu cầu Tòa án câp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm do câp sơ thẩm vi phạm tố tụng chưa thu thâp đầy đủ tài liệu, chứng cứ. Công ty B có ông Võ Trung T đại diện theo ủy quyền giữ nguyên kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm.

8.1 Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn - Luât sư Hà Thị Kim L trình bày ý kiên:

Đề nghị câp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm do câp sơ thẩm có sai sót trong thủ tục tố tụng và đánh giá chứng cứ, cụ thể là câp sơ thẩm vi phạm tố tụng trong việc thu thâp tài liệu, chứng cứ mà tại câp phúc thẩm bị đơn không thể cung câp được. Đồng thời đề nghị xem xét châp nhân yêu cầu phản tố của bị đơn về việc yêu cầu nguyên đơn trả lại tiền bán cổ phần EIB đợt 2 và 3 cho bị đơn; đình chỉ giải quyêt yêu cầu khơi kiện của nguyên đơn bơi le nội dung khơi kiện của nguyên đơn trùng lặp với nội dung khơi kiện tại bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 94/2023/KDTMPT ngày 21/8/2023 của Tòa án nhân dân câp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Về việc đánh giá chứng cứ tại câp sơ thẩm là chưa chính xác vì bị đơn không thừa nhân Chứng thư bảo lãnh ngày 15/3/2012, chứng thư này là do ông K ký sẵn trên giây trắng, khi ông K bị bắt tạm giam chưa kịp thu hồi, nội dung trên chứng thư bảo lãnh ông K không biêt. Câp sơ thẩm căn cứ chứng thư bảo lãnh này để buộc ông K thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh là không đúng.

Đối với khoản nợ của Công ty A xuât phát từ Hợp đồng giao dịch trạng thái vàng số 004/HĐGDTTV ngày 10/12/2009 là do Công ty A và Ngân hàng A cung câp số liệu chứ bản thân ông K không biêt nguồn gốc cũng như chi tiêt số tiền nợ gốc và lãi.

Đối với yêu cầu khơi kiện của Ngân hàng A: Trong vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 74/2023/TLST-KDTM ngày 18/5/2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã được xét xử bằng bản án sơ thẩm số 268/2022/KDTM-ST ngày 11/3/2022 và bản án phúc thẩm số 94/2023/KDTM-PT ngảy 21/8/2023 của Tòa án nhân dân câp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đang có hiệu lực pháp luât có nội dung tranh châp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng giữa Công ty A và ông K trong hoạt động kinh doanh vàng giữa Công ty A và Ngân hàng A. Bản án phúc thẩm trên đã buộc ông K bồi thường cho Công ty A toàn bộ khoản lỗ kinh doanh vàng phát sinh từ các hợp đồng và phụ lục hợp đồng, trong đó bao gồm Hợp đồng giao dịch trạng thái vàng số 004/HĐGDTTV ngày 10/12/2009 và các phụ lục. Khoản lỗ kinh doanh vàng được hiểu là khoản tiền mà Công ty A phải trả cho Ngân hàng A theo các hợp đồng kinh doanh vàng.

Trong vụ án này, Ngân hàng A xác định Công ty A có khoản nợ phải trả phát sinh từ Hợp đồng giao dịch trạng thái vàng số 004/HĐGDTTV ngày 10/12/2009 là 402.728.680.268 đồng và hiện còn nợ 77.744.306.481 đồng.

Căn cứ vào yêu cầu khơi kiện của Công ty A và Ngân hàng A trong 02 vụ án thây rằng đối tượng tranh châp đều là khoản lỗ kinh doanh vàng mà Công ty A phải trả cho Ngân hàng A phát sinh từ Hợp đồng giao dịch trạng thái vàng số 004/HĐGDTTV ngày 10/12/2009. Tuy 02 vụ án có quan hệ pháp luât tranh châp khác nhau nhưng đối tượng tranh châp đền là khoản tiền mà Công ty A có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng A phát sinh từ hợp đồng giao dịch trạng thái vàng 004/HĐGDTTV ngày 10/12/2009. Việc Tòa án câp sơ thẩm châp nhân yêu cầu khơi kiện của Ngân hàng A trong vụ án này là giải quyêt lại sự việc đã được Tòa án khác giải quyêt và là đang buộc ông K phải chịu trách nhiệm thực hiện 2 lần đối với một nghĩa vụ. Ngoài ra, đối với bản án 94/2023/KDTM-PT ngày 21/8/2023 của Tòa án câp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã được Cơ quan thi hành án tổ chức thi hành án và Công ty A có đủ khả năng tài chính để trả khoản nợ cho Ngân hàng A.

8.2. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày ý kiên:

8.2.1 Luât sư Phạm Công H:

Đối với nội dung kháng cáo của ông K, bà L và Công ty B yêu cầu câp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm vì lý do câp sơ thẩm không thu thâp tài liệu, chứng cứ là không rõ ràng vì phía ông K cho rằng cần thu thâp thêm chứng cứ nhưng không xác định được chứng cứ nào cần thu thâp.

Về số nợ của Công ty A đối với Ngân hàng A phát sinh từ Hợp đồng giao dịch trạng thái vàng 004/GTTV/HĐ ngày 10/12/2009. Căn cứ Giây chứng nhân đăng ký kinh doanh của Công ty A và Ngân hàng A do Sơ kê hoạch Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh câp có thể hiện ngành nghề kinh doanh vàng nên có căn cứ để xác định Hợp đồng giao dịch trạng thái vàng số 004 là có giá trị pháp lý. Ngày 31/12/2012, Công ty A và Ngân hàng A đã ký phụ lục hợp đồng với nội dung chính là xác định Công ty A có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng A toàn bộ giá trị khoản nợ là 173.685.702.284 đồng, thời hạn thanh toán châm nhât đên ngày 02/8/2015...Ngày 25/3/2015, Công ty A và Ngân hàng A tiêp tục ký phụ lục hợp đồng để duy trì khoản nợ trên. Trong quá trình xử lý và thu hồi nợ, Công ty A còn nợ Ngân hàng A số tiền 77.744.306.481 đồng và nợ lãi là 3.599.161.489 đồng. Do Công ty A không còn tài sản để trả nợ nên Ngân hàng A yêu cầu ông K thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Xét chứng thư ngày 15/3/2012 do ông K ký có giá trị pháp lý nên yêu cầu khơi kiện của Ngân hàng A là có căn cứ.

Đối với nội dung kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về việc cho rằng nội dung khơi kiện của nguyên đơn trong vụ án này có sự trùng lặp về nội dung khơi kiện đối với vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 74/2023/TLST-KDTM ngày 18/5/2020 và được xét xử bằng bản án sơ thẩm số 268/2022/KDTMST ngày 11/3/2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và bản án phúc thẩm số 94/2023/KDTM-PT ngày 21/8/2023. Sau khi tranh luân tại phiên tòa ngày 04/5/2024, phía nguyên đơn đã xem xét, đánh giá lại toàn bộ chứng cứ và nhân thây rằng khoản tiền mà ông K phải bồi thường cho Công ty A trong bản án phúc thẩm số 94 và số tiền nợ của Công ty A đối với Ngân hàng A theo Hợp đồng giao dịch trạng thái vàng số 004 trong vụ án này chưa được làm rõ có trùng lặp hay không; do đó phía nguyên đơn đồng ý với yêu cầu kháng cáo hủy án sơ thẩm của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Sau khi vụ án được xem xét giải quyêt lại theo thủ tục sơ thẩm, nêu việc thu thâp chứng cứ có cơ sơ xác định hai khoản tiền trên là trùng lặp thì phía nguyên đơn se xem xét rút yêu cầu khơi kiện đối với bị đơn.

Đề nghị Hội đồng xét xử châp nhân kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Đức K và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Ngọc L, Công ty Cổ phần Đầu tư Thương mại B hủy bản án sơ thẩm.

8.2.2 Các Luât sư Huỳnh S, Phạm Công D, Khưu Mỹ V: đồng ý với phần tranh luân của luât sư Phạm Công H và không bổ sung ý kiên gì thêm.

8.3. Người đại diện hợp pháp của Công ty A đồng ý với yêu cầu kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

8.4. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty B - Luât sư Nguyễn Đức H trình bày ý kiên:

Công ty B giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và đồng ý với yêu cầu kháng cáo của ông K và bà L. Đề nghị câp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm.

8.5. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiên:

Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của pháp luât tố tụng. Các đương sự thực hiện quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định pháp luât.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử châp nhân kháng cáo của ông Nguyễn Đức K, bà Đặng Ngọc L, Công ty B và ghi nhân ý kiên của Ngân hàng A, Công ty A và Công ty B; căn cứ khoản 3 Điều 308 của Bộ luât Tố tụng dân sự hủy bản án sơ thẩm số 93/2023/KDTM-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân Quân 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kêt quả tranh luân tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhân định:

Về hình thức: Bản án sơ thẩm số 93/2023/KDTM-ST của Toà án nhân dân Quân 3, Thành phố Hồ Chí Minh được tuyên vào ngày 28/9/2023. Tòa án nhân dân Quân 3, Thành phố Hồ Chí Minh lần lượt nhân được đơn kháng cáo của ông K và bà L vào các ngày 04/10/2023 và 11/10/2023, với yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng không châp nhân yêu cầu khơi kiện của Ngân hàng A và châp nhân toàn bộ yêu cầu phản tố của ông K; ngày 12/10/2023 nhân được đơn kháng cáo của Công ty B với yêu cầu hủy bản án sơ thẩm. Các đương sự có mặt tại phiên tòa nên kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan còn trong thời hạn quy định tại khoản 3 Điều 273 của Bộ luât Tố tụng dân sự nên được châp nhân về thời hạn.

Về quan hệ tranh châp và thẩm quyền giải quyêt vụ án:

Ngày 24/10/2016, ông Nguyễn Đức K khơi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân Quân 3 buộc Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu phải trả lại cho ông K số tiền mà ông K được trả từ các hợp đồng chuyển nhượng số cổ phần tại Ngân hàng E thuộc sơ hữu của ông K do Ngân hàng A bán và tự thu nợ không đúng; ông K xác định không tranh châp về hợp đồng chuyển nhượng cổ phần mà chỉ tranh châp về việc nhân khoản tiền từ việc chuyển nhượng. Tranh châp giữa các bên được xác định là tranh châp về đòi lại tài sản, Ngân hàng A có trụ sơ tại Quân 3 nên Tòa án nhân dân Quân 3 thụ lý đơn khơi kiện này của ông K là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 2 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luât Tố tụng dân sự.

Ngày 08/3/2017, Ngân hàng A có đơn phản tố yêu cầu ông K thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với khoản nợ còn lại của Công ty A gồm tiền nợ gốc là 77.744.306.481 đồng và tiền lãi là 3.599.161.489 đồng phát sinh từ Hợp đồng giao dịch trạng thái vàng 004/GDTTV/HD ngày 10/12/2009. Đây là tranh châp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại, cụ thể là tranh châp về thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thuộc thẩm quyền giải quyêt của Tòa án và Tòa án nhân dân Quân 3 đã thụ lý yêu cầu phản tố này của Ngân hàng A.

Ngày 01/11/2018, ông K rút yêu toàn bộ yêu cầu khơi kiện; Ngân hàng A không rút yêu cầu phản tố. Do đó, Tòa án nhân dân Quân 3 đã ban hành Quyêt định đình chỉ giải quyêt đối với yêu cầu khơi kiện của ông K đồng thời thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự theo quy định tại Điều 245 của Bộ luât Tố tụng dân sự; theo đó Ngân hàng A trơ thành nguyên đơn, ông K trơ thành bị đơn và các đương sự khác được giữ nguyên tư cách đương sự.

Ngày 15/5/2023, ông K có đơn yêu cầu phản tố đối với nội dung yêu cầu Ngân hàng A trả lại cho ông K tiền thanh toán đợt 2 và đợt 3 trong việc chuyển nhượng cổ phần EIB; đồng thời yêu cầu Ngân hàng A có nghĩa vụ bồi thường cho ông K số tiền tương đương với số tiền lãi mà ông K phải chịu theo hợp đồng tín dụng số SHN.CN.04280808 ngày 30/8/2008 mà ông K vay của Ngân hàng A. Đây là tranh châp về đòi lại tài sản và tranh châp về bồi thường thiệt hại thuộc thẩm quyền giải quyêt của Tòa án và Tòa án nhân dân Quân 3 đã thụ lý yêu cầu phản tố này của ông K.

Xét, ban đầu Tòa án nhân dân Quân 3 thụ lý đơn khơi kiện của ông K là đúng thẩm quyền và trong quá trình giải quyêt vụ án đã thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự, đồng thời cũng làm thay đổi địa chỉ của bị đơn. Tuy nhiên theo quy định tại khoản 3 Điều 39 của Bộ luât Tố tụng dân sự thì sự thay đổi này không làm thay đổi thẩm quyền giải quyêt vụ án.

Do đó, Tòa án nhân dân Quân 3 thụ lý và tiêp tục giải quyêt vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền.

Xét kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Đức K và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Ngọc L, Công ty B yêu cầu hủy bản án sơ thẩm, đình chỉ yêu cầu khơi kiện của Ngân hàng A:

Tại phiên tòa các đương sự đồng ý hủy bản án sơ thẩm.

Về yêu cầu khơi kiện của nguyên đơn Ngân hàng A: Ngân hàng A yêu cầu ông Nguyễn Đức K thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh theo Chứng thư bảo lãnh ngày 15/3/2012 đối với khoản nợ gốc 77.744.306.481 đồng và nợ lãi là 3.599.161.489 đồng của Công ty A do Công ty A không còn tài sản để thu hồi nợ. Khoản nợ này phát sinh từ Hợp đồng giao dịch trạng thái vàng số 004/HĐGDTTV ký kêt ngày 10/12/2009, các phụ lục hợp đồng số 01 ngày 31/12/2012 và số 02 ngày 25/3/2015 giữa Công ty A và Ngân hàng A.

Bị đơn ông K cho rằng yêu cầu khơi kiện của Ngân hàng A đối với ông K trong vụ án này là trùng lặp với nội dung trong vụ án kinh doanh thương mại đã được xét xử bơi Tòa án khác. Xét vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 74/2023/TLST-KDTM ngày 18/5/2020 đã được xét xử bằng bản án sơ thẩm số 268/2022/KDTM-ST ngày 11/3/2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và bản án phúc thẩm số 94/2023/KDTM-PT ngày 21/8/2023 của Tòa án nhân dân câp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã có hiệu lực pháp luât có nội dung tranh châp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng giữa Công ty A và ông Nguyễn Đức K trong hoạt động kinh doanh vàng giữa Công ty A và Ngân hàng A. Bản án phúc thẩm trên đã buộc ông K bồi thường cho Công ty A số tiền là 369.681.864.391 đồng do ông K kinh doanh vàng gây lỗ phát sinh từ các hợp đồng và phụ lục hợp đồng, gồm H đồng nguyên tắc giao dịch vàng ghi sổ số 004/GDVGS ngày 14/8/2007 và Hợp đồng giao dịch trạng thái vàng số 004/HĐGDTTV ngày 10/12/2009 trong các năm 2007, 2008, 2009 và 2010.

Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của Công ty A xác nhân việc kinh doanh vàng tại Công ty A đã châm dứt từ ngày 31/7/2010. Như vây, thực tê khoản lỗ vàng chỉ phát sinh đên năm 2010 và các phụ lục hợp đồng ký kêt sau năm 2010 giữa Công ty A và Ngân hàng A chỉ là để xác định khoản nợ phát sinh từ các Hợp đồng kinh doanh vàng tính từ năm 2010 trơ về trước và Công ty A đã có yêu cầu ông K bồi thường thiệt hại do kinh doanh vàng bị lỗ từ năm 2007 đên năm 2010 và đã được Tòa án châp nhân bằng bản án phúc thẩm số 94/2023/KDTM-PT ngày 21/8/2023 của Tòa án nhân dân câp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. Trong vụ án này, Ngân hàng A yêu cầu ông K thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trả nợ thay cho Công ty A đối với khoản nợ gốc 77.744.306.481 đồng và nợ lãi là 3.599.161.489 đồng phát sinh từ Hợp đồng giao dịch trạng thái vàng 004/HĐGDTTV. Xét hai quan hệ tranh châp (được giải quyêt bằng bản án đã có hiệu lực pháp luât và quan hệ đang được giải quyêt) có thể có khả năng trùng lặp nội dung tranh châp mặc dù xác định quan hệ tranh châp khác nhau và việc làm rõ này có ý nghĩa trong việc giải quyêt vụ án nhưng câp sơ thẩm chưa thu thâp tài liệu, chứng cứ để làm rõ khoản nợ này có liên quan đên khoản lỗ do kinh doanh vàng mà Công ty A yêu cầu ông K bồi thường (đã được châp nhân bằng bản án có hiệu lực pháp luât) hay không.

Xét về khoản nợ của Công ty A và nghĩa vụ thực hiện bảo lãnh:

Như đã phân tích tại mục [3.2] do câp sơ thẩm chưa làm rõ khoản lỗ vàng mà ông K phải bồi thường cho Công ty A theo bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 94/2023/KDTM-PT ngày 21/8/2023 có bao gồm khoản nợ của Công ty A phát sinh từ Hợp đồng giao dịch trạng thái vàng số 004/HĐGDTTV ngày 10/12/2009 trong vụ án này hay không nên Hội đồng xét xử không thể xác định nghĩa vụ thực hiện bảo lãnh trả nợ thay của ông K cho Công ty A mà cần phải thu thâp tài liệu, chứng cứ để có cơ sơ xác định rõ khoản tiền này nhằm đảm bảo việc giải quyêt vụ án đúng pháp luât. Do có những tình tiêt mới theo lời trình bày của các bên tại phiên tòa hôm nay, nên cần phải thu thâp thêm tài liệu chứng cứ để đảm bảo việc giải quyêt vụ án đúng pháp luât nhưng thời hạn xét xử phúc thẩm đã hêt, nên Hội đồng xét xử không thể tiên hành thu thâp chứng cứ, mà cần hủy bản án sơ thẩm để giải quyêt lại theo thủ tục sơ thẩm.

Xét phần trình bày tranh luân của các luât sư Phạm Công H, Huỳnh S, Khưu Mỹ V, Phạm Công D, Hà Thị Kim L, Nguyễn Đức H và người đại diện hợp pháp của Công ty A ông Nguyễn Hòa H về đề nghị hủy án sơ thẩm là có cơ sơ nên được Hội đồng xét xử châp nhân.

Xét ý kiên của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về hủy án sơ thẩm là phù hợp với nhân định của Hội đồng xét xử nên được châp nhân.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử châp nhân kháng cáo của ông Nguyễn Đức K, bà Đặng Ngọc L và Công ty Cổ phần Đầu tư Thương mại B; hủy bản án sơ thẩm số 93/2023/KDTM-ST ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quân 3, Thành phố Hồ Chí Minh. Việc hủy án do có phát sinh tình tiêt mới tại phiên tòa phúc thẩm nên câp sơ thẩm không có lỗi.

Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm ông Nguyễn Đức K, bà Đặng Ngọc L, Công ty Cổ phần B không phải chịu do yêu cầu kháng cáo được châp nhân.

Vì các le trên,

QUYÊT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 148, khoản 3 Điều 308 và Điều 310 của Bộ luât Tố tụng dân sự năm 2015.

- Căn cứ vào Nghị quyêt số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Châp nhân yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Đức K, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Ngọc L và Công ty Cổ phần Đầu tư Thương mại B.

Hủy bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 93/2023/KDTM-ST ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quân 3, Thành phố Hồ Chí Minh và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Quân 3, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyêt lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

2. Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Ông Nguyễn Đức K, bà Đặng Ngọc L và Công ty Cổ phần Đầu tư Thương mại B không phải chịu.

Trả lại cho ông Nguyễn Đức K, bà Đặng Ngọc L và Công ty Cổ phần Đầu tư Thương mại B, mỗi bên số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) theo các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2022/0002126, AA/2022/0002127 và AA/2022/0002128 cùng ngày 19/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quân 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luât kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ