vanban.org

Bản án 214/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị N. 1/ Về hôn nhân: Cho chị Đặng Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng N1. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 214/2024/HNGĐ-ST
Ngày 27-5-2024
V/v: “Tranh chấp Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thành Quang

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Văn Tới

2. Bà Nguyễn Kim Lên

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Hiếu Nghĩa - Thư ký viên, Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Ngày 27 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 224/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 174/2024/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Đặng Thị N, sinh năm 1987, địa chỉ cư trú: Ấp M, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng N1, sinh năm 1983, địa chỉ cư trú: Ấp E, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

(Nguyên đơn đề nghị xét xử vắng mặt, còn bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị N trình bày:

Về hôn nhân:

Chị và anh N1 chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Quá trình chung sống, thời gian đầu hạnh phúc, nhưng thời gian về sau vợ chồng bất đồng ý kiến, cãi nhau, dẫn đến không còn hạnh phúc và đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay. Nay nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu được ly hôn với anh N1.

Về con chung:

Vợ chồng có 01 người con chung là Nguyễn Nhật V, sinh ngày 02/01/2008 (giới tính: Nam).

Khi ly hôn, chị yêu cầu được quyền nuôi dưỡng cháu, đến tuổi trưởng thành.

Về cấp dưỡng, tài sản, nợ: Không có yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nay, chị N yêu cầu Toà án xét xử vắng mặt theo quy định.

- Đối với bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng N1:

Khi thụ lý, Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt, niêm yết đúng theo quy định của pháp luật, nhưng bị đơn vắng mặt, không có văn bản nêu ý kiến gửi đến Tòa án.

Vụ án, được Tòa án tiến hành công khai chứng cứ và lập biên bản không tiến hành hòa giải được, do bị đơn vắng mặt.

Tại Biên bản ghi nhận ý kiến ngày 22/4/2024, thì cháu Nhật V có nguyện vọng được sống chung với chị N.

Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt, nguyên đơn đề nghị xét xử vắng mặt và bảo lưu ý kiến như tại đơn khởi kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về sự vắng mặt của đương sự:

Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, còn bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt.

Căn cứ các điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử cần xét xử vắng mặt đối với các đương sự nêu trên, là phù hợp.

Về quan hệ pháp luật:

Được xác định là “Tranh chấp về Ly hôn”, bị đơn là N1 có nơi cư trú tại ấp E, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Từ đó, Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

- Về hôn nhân: Căn cứ Trích lục kết hôn số 158 ngày 04/4/2024 của Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau, cung cấp: Chị N và anh N1 có đăng ký kết hôn tại Giấy chứng nhận kết hôn số 237 ngày 25/11/2011 tại Ủy ban nhân dân xã K. Nên, hôn nhân giữa chị N và anh N1 là hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Theo chị N xác định: Quá trình chung sống, giữa chị và anh N1 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không quan tâm chăm sóc đến nhau và hiện đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay, nên chị nộp đơn ly hôn với anh N1. Còn đối với anh N1 vắng mặt, không tham gia tố tụng và cũng không có văn bản thể hiện ý kiến phản hồi gì trước yêu cầu ly hôn của chị N. Cho thấy, bị đơn đã không quan tâm đến việc hàn gắn hạnh phúc gia đình với nguyên đơn và nay chị N kiên quyết ly hôn với anh N1.

Theo Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau và có nghĩa vụ chung sống với nhau.

Xét, mâu thuẫn giữa chị N và anh N1 đã thật sự trầm trọng, không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ được chấp nhận. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận cho nguyên đơn được ly hôn với bị đơn là phù hợp với Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Về con chung: Chị N và anh N1 có 01 người con chung là Nguyễn Nhật V, sinh ngày 02/01/2008 (giới tính: Nam). Khi ly hôn, chị N yêu cầu được quyền nuôi dưỡng cháu đến tuổi trưởng thành. Đối với anh N1 vắng mặt, nên không có cơ sở xem xét.

Xét: đối với cháu Nhật V, tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 27/5/2024, là trên 07 tuổi, dưới 18 tuổi. Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “...; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Tại Biên bản ghi nhận ý kiến ngày 22/4/2024, thì cháu Nhật V có nguyện vọng được sống chung với chị N. Do đó, Hội đồng xét xử xét vì lợi ích của con chung, tôn trọng nguyện vọng của cháu, cũng như theo yêu cầu khởi kiện của chị N, nên cần giao cháu Nhật V cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

- Về cấp dưỡng, tài sản, nợ: Chị N không có yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết, trường hợp có tranh chấp sẽ được giải quyết ở vụ án khác.

Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N, nên chị N phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Các điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 238, 273, 483 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Các điều 19, 51, 56, 55, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Điều 26 của Luật thi hành án dân sự năm 2014.

Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị N.

1/ Về hôn nhân: Cho chị Đặng Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng N1.

2/ Về con chung: Giao cháu Nguyễn Nhật V, sinh ngày 02/01/2008 (giới tính: Nam) cho chị Đặng Thị N được quyền chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu Nhật V đủ 18 tuổi.

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Trường hợp, bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở bên không trực tiếp nuôi con trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Khi thấy cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3/ Về cấp dưỡng, tài sản, nợ: Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết, trường hợp có tranh chấp sẽ được giải quyết ở vụ án khác.

4/ Về án phí: Buộc chị Đặng Thị N phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), đối trừ số tiền 300.000 đồng mà chị N dự nộp tại biên lai 4821 ngày 05/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, nay được chuyển thu đối trừ.

5/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

“Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ