- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Đức H - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 214/2023/HS-PT Ngày: 26 – 10 – 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Đức
Các Thẩm phán:
1. Ông Y Phi Kbuôr
2. Ông Hoàng Kim Khánh
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Minh Chi - Thư ký TAND tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Thuỷ - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 228/2023/TLPT-HS ngày 02 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Trần Đức H về tội “Cố ý gây thương tích”. Do có kháng cáo của bị cáo Trần Đức H và bị hại Trần Văn Y đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2023/HS-ST ngày 27/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk.
- Bị cáo có kháng cáo: Trần Đức H; sinh ngày 19 tháng 8 năm 1967, tại tỉnh Hưng Yên. Nơi cư trú: Số 261 đường A, thôn M, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn C (đã chết), con bà Trần Thị T (sinh năm 1931); Bị cáo có vợ là Dương Thị Kim L và 02 con, lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 1998. Tiền sự, tiền án: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/3/2023 đến ngày 03/8/2023, hiện đang tại ngoại. (có mặt tại phiên tòa)
- Bị hại: Ông Trần Văn Y, sinh năm 1969; Địa chỉ: Số 259A đường A, buôn E, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ ngày 17/01/2023, Trần Đức H đang đứng trước đường của gia đình tại thôn 1, thị trấn B, huyện K để xem bà Dương Thị Kim L (vợ của H) đang bán hoa ở trước lề đường cho người dân chuẩn bị đón Tết Nguyên Đán năm 2023. Khi đó, ông Trần Văn Y đang dùng máy xịt nước rửa sân nhà ông Y, làm nước bẩn chảy xuống đường và rác bẩn văng qua khu vực để hoa bán của gia đình H. Thấy vậy, H nói ông Y “Sao mày lại xịt rác và đất văng khắp mọi nơi và văng sang nhà tao thế này,….”, nghe H nói vậy thì ông Y nói lại “Tao cứ xịt đó, tao không xịt vào nhà thằng nào, mày làm gì được tao”. Khi đó, giữa H và Y to tiếng, thách thức đánh nhau. Do bực tức việc ông Y thường xuyên xịt nước làm ảnh hưởng đến việc buôn bán đồ ăn sáng của gia đình bị cáo mà còn thách thức đánh nhau nên Trần Đức H lấy 01 gậy gỗ dài khoảng 30 – 40cm chạy qua nhà ông Y, đánh 01 cái trúng vào vùng thái dương trái của ông Y gây thương tích. Khi đó, ông Y dùng tay phải đấm 01 cái trúng vào vùng cằm bị cáo H nên H cầm gậy gỗ chạy về phía nhà của mình. Sau khi xảy ra sự việc, ông Trần Văn Y được gia đình đưa đến Trung tâm y tế huyện Krông Ana điều trị thương tích.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 319/TgT-TTPY ngày 07/3/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Y là 12 %. Vật tác động: Vật tày cứng có cạnh.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2023/HS-ST ngày 27/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk, đã quyết định:
Căn cứ vào: Điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Đức H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Đức H 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 08/8/2023, bị cáo Trần Đức H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Ngày 30/7/2023, bị hại Trần Văn Y kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk:
Quá trình tranh luận tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi, nguyên nhân cũng như hậu quả mà bị cáo gây ra và cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trần Đức H về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ. Mức hình phạt 02 năm 06 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo là phù hợp. Tuy nhiên, việc bắt bị cáo chấp hành hình phạt là chưa đến mức cần thiết. Bởi lẽ, nguyên nhân dẫn đến việc bị cáo phạm tội, trước tiên là do bị hại cũng có một phần lỗi do thường xuyên xịt nước, rác bẩn ra đường làm ảnh hưởng đến việc buôn bán của nhà bị cáo (Việc này đã được người dân xung quanh, trưởng thôn, cấp uỷ chi bộ buôn E xác nhận) làm cho bị cáo bức xúc, không kiềm chế dẫn đến phạm tội. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo tiếp tục bồi thường toàn bộ thiệt hại thể hiện sự ăn năn hối lỗi, bị hại cũng có kháng cáo xin khoan hồng cho bị cáo. Bị cáo còn là lao động chính trong gia đình, đang nuôi mẹ già yếu, bố mẹ bị cáo đều là người có công với cách mạng. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo và bị hại. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Trần Đức H 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời gian thử thách là 05 năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bị cáo không tranh luận gì thêm, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Đức H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Do mâu thuẫn trong sinh hoạt hằng ngày với ông Trần Văn Y nên vào khoảng 19 giờ ngày 17/01/2023, sau khi cãi vã với ông Y thì bị cáo Trần Đức H đã dùng 01 cây gỗ dài khoảng 30 – 40cm đánh 01 cái trúng vào vùng thái dương trái của ông Y, gây thương tích 12%.
Như vậy, với hành vi như trên, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Trần Đăng H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp lý và đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo Trần Đức H, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Mức hình phạt 02 năm 06 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt đối với bị cáo Trần Đức H là thỏa đáng, phù hợp. Tuy nhiên, việc bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù là chưa đến mức cần thiết. Bởi lẽ, nguyên nhân dẫn đến việc bị cáo phạm tội một phần là vì bị cáo bị bức xúc do bị hại nhiều lần dùng vòi xịt nước để nước và rác chảy qua trước quán bán đồ ăn sáng của nhà bị cáo. Bị hại đã được hàng xóm, chính quyền nhắc nhở và hứa sẽ khắc phục nhưng đến gần Tết Nguyên đán, bị hại vẫn xịt nước làm bẩn hoa của vợ bị cáo đang bán và có thái độ thách thức bị cáo, khiến bị cáo bức xúc nhất thời phạm tội. Ngoài ra, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như: Đã bồi thường cho bị hại toàn bộ số tiền mà bản án sơ thẩm đã tuyên; có thái độ khai báo trung thực, ăn năn hối cải; gia đình có công với cách mạng; bản thân bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, là lao động chính trong gia đình, hiện tại đang nuôi mẹ già yếu và bị hại cũng có kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin cho bị cáo được hưởng án treo.
Từ những phân tích, nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương và gia đình giám sát, giáo dục bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo thành công dân tốt. Do đó, cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Đức H, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2023/HS-ST ngày 27/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk theo hướng giữ nguyên mức hình phạt và cho bị cáo hưởng áo treo.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên xử: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Đức H – Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2023/HS-ST ngày 27/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk.
[2] Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Đức H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Trần Đức H cho Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
[3] Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, bị cáo Trần Đức H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - TAND Cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Đắk Lắk (02 bản); - Phòng HSNV CA tỉnh Đắk Lắk; - Văn phòng CQCSĐT CA tỉnh Đắk Lắk; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - TAND huyện Krông Ana; - VKSND huyện K; - Công an huyện K; - Chi cục THADS huyện K; - UBND TT. B, huyện K; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Tấn Đức |