vanban.org

Bản án 214/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị H ly hôn ông Huỳnh Văn H1.

Về con chung: Giao con là Huỳnh Hoàng H3 (giới tính nam), sinh ngày 23/6/2009 và Huỳnh Thái D (giới tính nam), sinh ngày 03/12/2019 cho bà Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Huỳnh Văn H1 không cấp dưỡng nuôi con. Ông Huỳnh Văn H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị H ly hôn ông Huỳnh Văn H1.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 214/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 19-9-2023
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Vẹn

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Lý Ba

Bà Đoàn Thị Sim

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quang Nhật là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Võ Việt Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 235/2023/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2023 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 454/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1985 (có mặt).

Địa chỉ: Khóm A, thị trấn C, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau

- Bị đơn: Ông Huỳnh Văn H1, sinh năm 1985 (vắng mặt).

Địa chỉ: Khóm B, thị trấn C, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 26/6/2023 và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa bà Nguyễn Thị H trình bày: Bà và ông Huỳnh Văn H1 kết hôn năm 2007 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau vào ngày 07/5/2020. Quá trình chung sống xảy ra mâu thuẫn, không hòa hợp trong lối sống, vợ chồng thường hay cự cải do ông H1 có tình cảm với người phụ nữ khác, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, bà và ông Huỳnh Văn H1 không còn chung sống với nhau như vợ chồng từ cuối năm 2022 đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống vợ chồng không mang lại hạnh phúc, không thể tiếp tục chung sống nên bà yêu cầu ly hôn với ông Huỳnh Văn H1. Bà và ông Huỳnh Văn H1 có hai người con tên là Huỳnh Hoàng H3, sinh ngày 23/6/2009 và Huỳnh Thái D, sinh ngày 03/12/2019, hiện bà đang trực tiếp nuôi dưỡng. Nay bà yêu cầu giao con cho bà tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu ông Huỳnh Văn H1 cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung tự thỏa thuận và nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết.

Ông Huỳnh Văn H1 được triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng nhiều lần nhưng vắng mặt không lý do và không cung cấp lời khai, chứng cứ đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án, người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Nguyễn Thị H ly hôn ông Huỳnh Văn H1. Về con chung, giao Huỳnh Hoàng H3, sinh ngày 23/6/2009 và Huỳnh Thái D, sinh ngày 03/12/2019 cho bà Nguyễn Thị H tiếp tục nuôi dưỡng, ông Huỳnh Văn H1 không cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung và nợ chung không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị H khởi kiện ông Huỳnh Văn H1 yêu cầu ly hôn, yêu cầu giải quyết về con chung nên đây là quan hệ tranh chấp về “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, bị đơn ông Huỳnh Văn H1 cư trú tại huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Huỳnh Văn H1 được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do, do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân, bà Nguyễn Thị H và ông Huỳnh Văn H1 kết hôn năm 2007, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị H và ông Huỳnh Văn H1 được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp. Xét thấy, quá trình chung sống giữa bà Nguyễn Thị H và ông Huỳnh Văn H1 xảy ra mâu thuẫn và đã không còn chung sống với nhau như vợ chồng từ cuối năm 2022 đến nay mà không thể hàn gắn, như vậy quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị H và ông Huỳnh Văn H1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, ông Huỳnh Văn H1 cũng không có ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị H cho thấy ông Huỳnh Văn H1 không mong muốn hàn gắn với bà Nguyễn Thị H. Từ đó, chấp nhận cho bà Nguyễn Thị H ly hôn ông Huỳnh Văn H1 là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung, bà Nguyễn Thị H yêu cầu nuôi con là Huỳnh Hoàng H3 và Huỳnh Thái D, ông Huỳnh Văn H1 không có ý kiến đối với yêu cầu nuôi con của bà Nguyễn Thị H. Xét thấy, con chung hiện đang sống với bà Nguyễn Thị H và Huỳnh Hoàng H3 có nguyện vọng sống với mẹ. Vì vậy, để ổn định tâm lý, môi trường sống của con chung nên giao Huỳnh Hoàng H3 và Huỳnh Thái D cho bà Nguyễn Thị H tiếp tục nuôi dưỡng là có căn cứ. Bà Nguyễn Thị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên không đặt ra xem xét.

[5] Bà Nguyễn Thị H và ông Huỳnh Văn H1 không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung nên không đặt ra xem xét.

[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân có căn cứ nên được chấp nhận.

[7] Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Áp dụng các điều 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị H ly hôn ông Huỳnh Văn H1.

2. Về con chung: Giao con là Huỳnh Hoàng H3 (giới tính nam), sinh ngày 23/6/2009 và Huỳnh Thái D (giới tính nam), sinh ngày 03/12/2019 cho bà Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Huỳnh Văn H1 không cấp dưỡng nuôi con.

Ông Huỳnh Văn H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị H chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng, theo biên lai thu tiền số 0019031 ngày 27/6/2023, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau, như vậy bà Nguyễn Thị H không còn phải nộp thêm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ