- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 214/2022/HS-ST Ngày 29-11-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tạ Thị Ngân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Công Đoàn
Ông Lương Văn Thoại
- T ký phiên toà: Bà Hoàng Huyền Trang – T ký Toà án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Hiến - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 193/2022/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 196/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Văn T; tên gọi khác: Không; sinh năm 1985; nơi sinh: H; giới tính: Nam; ĐKHKTT và nơi cư trú: Tập thể X, Xã T, Huyện T, thành phố H; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; họ và tên bố: Phạm Văn M; họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T; gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ 3; họ và tên vợ: Hoàng Thị Nguyệt – sinh năm: 1982; có 02 con, con lớn sinh năm 2010 và con nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Theo Lý lịch bị can và danh bản, chỉ bản số 409 do Công an huyện Gia Lâm lập ngày 20/9/2022 xác định bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Nhân thân: Ngày 13/01/2001 Công an huyện Huyện T, thành phố H xử lý phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản theo quyết định số 268, phạt tiền 50.000 đồng (đã nộp tiền phạt ngày 16/01/2001).
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Chị Phạm Diệu H, sinh năm 1992; ĐKHKTT: Khu 1, P T, Thành phố M, Tỉnh Q (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 30/7/2022, T điều khiển xe máy Yamaha Force, BKS: 30HS - 0580 đi từ nhà ở tập thể X, Xã T, Huyện T, thành phố H đến khu Ngọc Trai Vinhomes Ocean Park, Gia Lâm để tìm việc làm. T có vào quán Ngọc Trai 06 – 134-136 KĐT Vinhomes Ocean Park, Đa Tốn,Gia Lâm, thành phố H của chị Phạm Diệu H để uống nước. T ngồi bàn trong cùng phát hiện trên bàn có để một chiếc máy tính bảng ipad, ốp màu đen đang cắm sạc xung quanh không có ai nên nảy sinh ý định trộm cắp chiếc máy tính trên để sử dụng bản thân. Để thực hiện mục đích trên T dùng chân phải dẫm vào ổ điện tay phải rút bộ củ sạc, cáp sạc khỏi ổ điện rồi quấn cho vào túi áo bên phải T đang mặc. Sau đó tay phải T cầm chiếc Ipad cho vào trong áo chống nắng T đang mặc và đi ra khỏi quán rồi điều khiển xe máy đi đến quán sửa điện thoại ở khu vực đường Nguyễn Trãi - Hà Nội để bẻ khóa chiếc ipad vừa trộm cắp được với giá 800.000 đồng. Sau khi mở khóa được chiếc máy tính bảng trên T mang về nhà ở khu tập thể Z179 Xã T, Huyện T, thành phố H để sử dụng thì bị Công an phát hiện.
Vật chứng thu giữ của Phạm Văn T gồm: 01 máy tính bảng nhãn hiệu Apple Ipad thế hệ 7, màu xám, vỏ ốp màu đen, bản Wifi 128GB số máy MW77ZLL/A, số Seri: GG7ZN4P1MF3Q, đã qua sử dụng; 01 bộ củ sạc, cáp sạc Ipad màu trắng; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Xiaomi Redmi 9 bên trong lắp sim số 0903223602 và 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Force, màu bạc, BKS: 30H5-0580, số khung: 001395; số máy: 087030038.
Tại Kết luận định giá số 119/KL-HĐĐGTS ngày 09/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Gia Lâm: 01 chiếc máy tính bảng nhãn hiệu Apple Ipad, màu xám, bản Wifi 128gb, số Seri: GG7ZN4P1MF3Q, đã qua sử dụng, tại thời điểm xảy ra vụ việc trị giá 7.000.000 đồng; 01 bộ sạc Ipad gồm củ sạc, cáp sạc màu trắng, đã qua sử dụng tại thời điểm xảy ra vụ việc trị giá 500.000 đồng (Tổng cộng trị giá 7.500.000 đồng).
Tại bản cáo trạng số: 193/CT-VKSGL ngày 14/11/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm đã truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát đã truy tố.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thấy rằng: Hành vi của bị cáo Phạm Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố.
- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật hình sự.
- Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Văn T mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 18 tháng đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án.
- Về xử lý vật chứng: Không
- Về hình phạt bổ sung: Không
- Về dân sự: Không
Nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Gia Lâm, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn nhận tội và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
- Về tội danh:
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát huyện Gia Lâm đã truy tố.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 30/7/2022 tại căn hộ Ngọc Trai 06 – 134-136 KĐT Vinhomes Ocean Park, Đa Tốn, Gia Lâm, thành phố H, bị cáo Phạm Văn T đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc máy tính bảng nhãn hiệu Apple Ipad, màu xám, ốp màu đen, bản Wifi 128gb, số Seri: GG7ZN4P1MF3Q, đã qua sử dụng trị giá 7.000.000 đồng và 01 bộ sạc Ipad gồm củ sạc, cáp sạc màu trắng, đã qua sử dụng trị giá 500.000 đồng của chị Phạm Diệu H. Tổng trị giá tài sản bị can Phạm Văn T chiếm đoạt của chị Phạm Diệu H là 7.500.000 đồng.
Hành vi của bị cáo Phạm Văn T đã có đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Viện Kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm đề nghị truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo đã cố ý trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được Bộ luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Do vậy, cần phải nghiêm trị đối với bị cáo.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Quá trình điều tra cũng như tại đơn xin xét xử vắng mặt, người bị hại là chị Phan Diệu H đều có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được coi là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 bộ luật hình sự.
Xét tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đáng ra phải xử phạt bị cáo mức hình phạt tù mới thỏa đáng. Song xét thấy bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo là lao động chính trong gia đình, có con nhỏ mắc bệnh tự kỷ cần bố mẹ quan tâm chăm sóc, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải buộc bị cáo cách ly với xã hội mà chỉ cần xử phạt bị cáo một mức án tù trong khung hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo theo Điều 65 của Bộ luật hình sự và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát và giáo dục cũng có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về nhân thân của bị cáo, về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
- Về xử lý vật chứng: Không
- Về trách nhiệm dân sự:
Ngày 21/10/2022, Cơ quan CSĐT – Công an huyện Gia Lâm đã ra quyết định xử lý vật chứng trả cho chị H: 01 máy tính bảng nhãn hiệu Apple Ipad thế hệ 7, màu xám, vỏ ốp màu đen và 01 bộ củ sạc, cáp sạc màu trắng. Chị H đã nhận lại tài sản trên và không yêu cầu đề nghị gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ.
- Về vấn đề khác:
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Force, màu bạc, BKS: 30H5-0580 thu giữ của bị can T. Qua xác minh chủ đăng ký xe là chị Trần Bội Ngọc, sinh năm: 1982 – trú tại: 86 Quán Thánh, Ba Đình, thành phố H. Khoảng năm 2018, chị Ngọc đã bán chiếc xe máy trên cho chị Hoàng Thị Nguyệt – sinh năm: 1982 trú tại: Tập thể Z179, Xã T, Huyện T, thành phố H (vợ của T) với giá 10.000.000 đồng. Ngày 30/7/2022, chị Nguyệt không biết T sử dụng xe máy để di trộm cắp tài sản. Ngày 21/10/2022, Cơ quan CSĐT – Công an huyện Gia Lâm đã ra quyết định xử lý vật chứng trả chiếc xe máy trên cho chị Nguyệt là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Xiaomi Redmi 9 bên trong lắp sim số 0903223602 do không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Gia Lâm đã trả lại cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về xử lý vật chứng, về trách nhiệm dân sự, về hình phạt bổ sung và về các vấn đề khác là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
- Về án phí:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Tờng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Về quyền kháng cáo:
Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Phạm Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Xã T, huyện Huyện T để quản lý, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng
3. Về dân sự: Không.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Tờng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Phạm Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà Nội; - Sở Tư pháp thành phố Hà Nội; - VKS nhân dân huyện Gia Lâm; - UBND xã,phường nơi bị cáo cư trú (thay cho thông báo kết quả xét xử); - Công an huyện Gia Lâm; - Chi cục THADS huyện Gia Lâm; - Bị cáo và những người TGTT khác; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa Tạ Thị Ngân |