vanban.org

Bản án 214/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Minh K. Bà Nguyễn Thị Minh K được ly hôn với ông Nguyễn Văn D.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đình V, sinh ngày 31/12/2012 cho bà Nguyễn Thị Minh K trực tiếp chăm sóc, giáo dục. Ông Nguyễn Văn D cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đ/1 tháng. Vì quyền lợi của con, ông D có quyền thăm non, chăm sóc con mà bà K không có quyền được cản trở, khi cần thiết các bên có quyền y… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bà Nguyễn Thị Minh K yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn D"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Minh K. Bà Nguyễn Thị Minh K được ly hôn với ông Nguyễn Văn D.
  • Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ B
TỈNH D

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 214/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 12/07/2021
V/v “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung”
NHAÂN DANH
NÖÔÙC COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM
TOØA AÙN NHAÂN DAÂN THAØNH PHOÁ B - TÆNH Ñ
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đồng Thị Hồng
dân thành phố B, tỉnh Đ.
phiên tòa: Bà Trần Thị Thủy - Kiểm sát viên.
xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 540/2021/TLST – HNGĐ ngày 17 tháng
03 năm 2021, về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa
vụ án ra xét xử số 200/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/06/2021, giữa các
đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Minh K, sinh năm 1981.
Địa chỉ: 52B/86, Khu phố 7, phường Hố Nai, thành phố B, tỉnh Đ.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1985.
Hộ khầu thường trú: 526/1, tổ 28, Khu phố 3, phường Long Bình Tân,
thành phố B, tỉnh Đ.
Ngày 12 tháng 07 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đ

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh K trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Văn D tự nguyện tìm hiểu và đi đăng ký kết hôn tại UBND phường Long Bình Tân, thành phố B, tỉnh Đ và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 04/10/2012; có tổ chức đám cưới, hôn nhân tự nguyện. Sau khi kết hôn, bà chuyển về sinh sống cùng với gia đình chồng tại địa chỉ thường trú của chồng thuộc phường Long Bình Tân. Tuy nhiên, từ cuối năm 2012, sau khi sinh con, giữa bà và gia đình chồng cũng như chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bên cạnh đó ông D lại thường xuyên nhậu nhẹt, đi sớm về khuya, ít quan tâm đến vợ con, cờ bạc và cá độ dẫn đến nợ nần và có hành vi bạo lực với bà. Năm 2019, do không chịu được áp lực cuộc sống nên bà đã chuyển ra ngoài sinh sống cùng con. Hiện nay hai vợ chồng cũng đã ly thân hơn 1 năm rưỡi. Nhận thấy, hiện nay cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, bà đã cho ông D rất nhiều cơ hội để sửa đổi nhưng bất thành, do đó tình cảm vợ chồng nhạt dần và đến nay cũng đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà xin được ly hôn với ông D để trả tự do cho nhau.

Về con chung: Trong quá trình chung sống bà và ông Nguyễn Văn D có 01 người con chung là cháu Nguyễn Đình V, sinh ngày 31/12/2012. Sau ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cháu V, không yêu cầu ông D phải cấp dưỡng nuôi con chung vì cháu V bị hạn chế nhận thức do mắc bệnh bãi não từ nhỏ, bà là người trực tiếp theo dõi bệnh tình, tập vật lý trị liệu để cải thiện bệnh tật cho cháu V từ trước đến nay.

Về tài sản chung và nợ chung: Chúng tôi không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại bản tự khai bị đơn ông Nguyễn Văn D trình bày:

+ Về quan hệ hôn nhân: Ông đồng ý với lời khai của bà K về quá trình cả hai quen biết, tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau. Ông thừa nhận trong quá trình chung sống cả hai vợ chồng cũng hay xảy ra mâu thuẫn vì không có tiếng nói chung. Năm 2019 thì bà K đã đưa con ra ngoài sống riêng và vợ chồng ly thân cho đến nay. Hiện nay, bà K muốn ly hôn thì ông đồng ý.

+ Về con chung: 01 người con chung là cháu Nguyễn Đình V, sinh ngày 31/12/2012. Sau khi ly hôn, ông đồng ý để bà K tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng cháu V, đồng thời ông cấp dưỡng 2.000.000đ/1 tháng theo như nguyện vọng ban đầu của bà K.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố B:

- Về việc kiểm sát chấp hành pháp luật tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án đảm bảo theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục theo quy định pháp luật.

- Veà quan heä hoân nhaân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Minh K đối với ông Nguyễn Văn D.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đình V cho bà K được trực tiếp chăm sóc và giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của ông D về việc cấp dưỡng cho cháu Nguyễn Đình V 2.000.000đ/1 tháng.

- Về tài sản chung, nợ chung: Cả hai xác định không có tài sản chung cũng như nợ chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.

- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Minh K phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Minh K nộp đơn yêu cầu giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1985. Ông D có hộ khầu thường trú tại: 526/1, tổ 28, Khu phố 3, phường Long Bình Tân, thành phố B, tỉnh Đ. Do đó, căn cứ vào các Điều 28, Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đ. Qua nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng ông D và bà Nguyễn Thị Minh K cung cấp ý kiến, tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình đồng thời sau đó có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án đưa ra xét xử vắng mặt bà K và ông D.

. Về quan hệ hôn nhân: Theo bà Nguyễn Thị Minh K trình bày thì bà và ông Nguyễn Văn D tự nguyện tìm hiểu và đi đăng ký kết hôn tại UBND phường Long Bình Tân, thành phố B, tỉnh Đ và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 04/10/2012; có tổ chức đám cưới, hôn nhân tự nguyện. Sau khi kết hôn, bà chuyển về sinh sống cùng với gia đình chồng tại địa chỉ thường trú của chồng thuộc phường Long Bình Tân. Tuy nhiên, từ cuối năm 2012, sau khi sinh con, giữa bà và gia đình chồng cũng như chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bên cạnh đó ông D lại thường xuyên nhậu nhẹt, đi sớm về khuya, ít quan tâm đến vợ con, cờ bạc và cá độ dẫn đến nợ nần và có hành vi bạo lực với bà. Năm 2019, do không chịu được áp lực cuộc sống nên bà đã chuyển ra ngoài sinh sống cùng con. Hiện nay hai vợ chồng cũng đã ly thân hơn 1 năm rưỡi. Nhận thấy, hiện nay cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, bà đã cho ông D rất nhiều cơ hội để sửa đổi nhưng bất thành, do đó tình cảm vợ chồng nhạt dần và đến nay cũng đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà xin được ly hôn với ông D để trả tự do cho nhau. Những lời trình bày này của bà K được ông D thừa nhận và xác định hai vợ chồng có mâu thuẫn, hiện đã sống ly thân với nhau đồng thời ông cũng đồng ý với yêu cầu ly hôn của bà K. Do đó, xét thấy yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Minh K là có căn cứ để chấp nhận.

. Về con chung: Trong quá trình chung sống bà K và ông Nguyễn Văn D có 01 người con chung là cháu Nguyễn Đình V, sinh ngày 31/12/2012. Sau ly hôn bà K yêu cầu được tiếp tục trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cháu V, không yêu cầu ông D phải cấp dưỡng nuôi con chung vì cháu V bị hạn chế nhận thức do mắc bệnh bãi não từ nhỏ, bà là người trực tiếp theo dõi bệnh tình, tập vật lý trị liệu để cải thiện bệnh tật cho cháu V từ trước đến nay. Đối với yêu cầu nuôi con của bà K được ông D chấp nhận, đồng thời ông đồng ý cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đ/1 tháng theo như nguyện vọng ban đầu trong đơn khởi kiện của bà K. Do các bên đã thống nhất được vấn đề con chung và cấp dưỡng nuôi con chung nên Tòa án ghi nhận.

. Về tài sản chung và nợ chung: Cả hai đều xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra dể xem xét giải quyết.

. Về án phí HNGĐ sơ thẩm: Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bà Nguyễn Thị Minh K phải nộp 300.000đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì caùc leõ treân,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng các Điều 9; Điều 11; Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;

- Áp dụng Điều 9, Điều 19; Điều 53, Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; khoản 1 Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Minh K. Bà Nguyễn Thị Minh K được ly hôn với ông Nguyễn Văn D.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đình V, sinh ngày 31/12/2012 cho bà Nguyễn Thị Minh K trực tiếp chăm sóc, giáo dục. Ông Nguyễn Văn D cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đ/1 tháng. Vì quyền lợi của con, ông D có quyền thăm non, chăm sóc con mà bà K không có quyền được cản trở, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi dưỡng cũng như cấp dưỡng nuôi con. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày bản án có hiệu lực cho đến khi cháu V đủ 18 tuồi và có khả năng lao động.

- Về tài sản chung, nợ chung: Các bên đương sự đều xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra để xem xét giải quyết.

- Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Minh K phải nộp 300.000đ án phí, được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0000326 ngày 10/03/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B. Bà K đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ông Nguyễn Văn D phải chịu 300.000đ án phí cấp dưỡng.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên thi hành án phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Quyết định này được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

- Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyeàn khaùng caùo trong thời haïn 15 ngaøy keå töø ngaøy nhaän ñöôïc baûn aùn hoaëc được tống đạt hợp lệ bản án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ