- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị D được ly hôn với anh Lê Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 214/2021/HNGĐ-ST Ngày: 27 - 8 - 2021 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tiến
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Đăng Thiện
2. Bà Đỗ Thị Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Tỉnh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân; Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 49/2021/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2021 về "ly hôn, tranh chấp về nuôi con", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 7 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2021/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Lê Thị D, sinh năm 1981, địa chỉ: Thôn Q, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Lê Văn T, sinh năm 1979, địa chỉ: Thôn H, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt không có lý do.
NỘI D VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 26 tháng 02 năm 2021, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Lê Thị D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Văn T qua tìm hiểu, tự nguyện lấy nhau, có tổ chức cưới và làm đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X vào ngày 05/5/2003. Sau khi kết hôn được khoảng 2 năm tình cảm vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng trong sinh hoạt gia đình, anh Tuấn hay rượu chè say xỉn về đánh đập vợ con, nhưng chị vẫn cố gắng chịu đựng nuôi con, nhưng tình cảm giữa vợ chồng vẫn không được cải thiện. Đến năm 2020 thì mâu thuẫn vợ chồng càng trầm trọng hơn, anh T vẫn thường xuyên rượu chè say xỉn, đánh đập vợ con, chị không thể chịu đựng nỗi nên chị đã bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống. Nay chị xác định không còn tình cảm vợ chồng, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
Về con chung: Chị D xác định vợ chồng có 03 con, nhưng hai con đã chết, nên hiện tại vợ chồng chỉ còn 01 con chung là cháu Lê Văn Đức A, sinh ngày 09/11/2015, hiện con đang ở với chị. Nguyện vọng của chị là xin được trực tiếp nuôi con và yêu cầu anh T phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.000.000 đồng.
Về tài sản: Chị D có ý kiến không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là anh Lê Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng không đến Tòa án làm việc, vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, nên Tòa án không lấy được lời khai.
Tại biên bản xác minh lập ngày 19/7/2021 đại diện Ủy ban nhân dân xã X cho biết: Chị Lê Thị D và anh Lê Văn T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X vào ngày 05/5/2003. Qúa trình chung sống tại địa phương vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn thế nào địa phương không nắm bắt được. Hiện nay anh T, chị D đã ly thân nhau; anh chị có một con chung là cháu Lê Văn Đức A, sinh ngày 09/11/2015, hiện đang ở với chị D.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn thực hiện chưa đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị D được ly hôn với anh Lê Văn T. Về con chung: Giao con chung là cháu Lê Văn Đức A, sinh ngày 09/11/2015 cho chị Lê Thị D được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Anh Lê Văn T phải cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 1.000.000 đồng. Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Chị Lê Thị D khởi kiện đề nghị giải quyết xin được ly hôn với anh Lê Văn T, cư trú tại: Thôn Hòa Bình, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân.
Qúa trình giải quyết vụ án bị đơn là anh Lê Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng; Tại phiên tòa hôm nay bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt; nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị D và anh Lê Văn T là hôn nhân hợp pháp, anh chị tự nguyện kết hôn, đã được Ủy ban nhân dân xã X cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 05/5/2003. Trong quá trình chung sống, tình cảm giữa vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, do bất đồng trong sinh hoạt gia đình, giữa vợ chồng không có sự tin tưởng, tôn trong, chia sẽ với nhau trong gia đình. Từ năm 2020 vợ chồng đã ly thân đến nay, không còn qua lại quan tâm tình cảm với nhau. Nay chị D một mực đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn; anh T biết được Tòa án đang thụ lý giải quyết quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng, nhưng không đến Tòa án làm việc để trình bày quan điểm, cũng như tham gia các phiên hòa giải, phiên tòa, điều đó thể hiện anh T không có thiện chí hàn gắn mối quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng. Do đó, có đủ cơ sở xác định: Quan hệ hôn nhân giữa chị D và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu giải quyết ly hôn của chị D, xử cho chị Lê Thị D được ly hôn với anh Lê Văn T.
Về con chung: Chị Lê Thị D và anh Lê Văn T có 01 con chung là cháu Lê Văn Đức A, sinh ngày 09/11/2015, hiện con đang ở với chị D.
Xét: Quá trình giải quyết vụ án chị D có nguyện vọng tha thiết xin được trực tiếp nuôi con và chứng minh có đủ các điều kiện để nuôi con, trong khi anh T không đến Tòa án làm việc, không trình bày quan điểm về nuôi con chung; Cháu Đức hiện đang ở với chị D được chị D chăm sóc tốt. Do đó để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, cần thiết giao con chung cho chị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Chị D có ý kiến yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.000.000 đồng; Anh T không trực tiếp nuôi con nên phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, cần buộc anh T phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.000.000 đồng cho đến khi con thành niên.
Về phần tài sản: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết; còn anh T không có lời khai trong hồ sơ. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm; anh T phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
Vê quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị D được ly hôn với anh Lê Văn T.
2. Về con chung: Chị Lê Thị D và anh Lê Văn T có 01 (một) con chung là cháu Lê Văn Đức A, sinh ngày 09/11/2015.
Giao cháu Lê Văn Đức A cho chị Lê Thị D được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Lê Văn T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 1.000.000 đồng (một triệu đồng) kể từ tháng 9 năm 2021 cho đến khi con thành niên (đủ 18 tuổi).
Anh Lê Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về tài sản: Không xem xét.
4. Về án phí: Chị Lê Thị D phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị D đã nộp, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2019/0006354 ngày 01/3/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân. Chị Lê Thị D đã nộp đủ tiền án phí.
Anh Lê Văn T phải nộp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Thọ Xuân; - Chi cục THADS huyện Thọ Xuân; - P. kiểm tra nghệp vụ và THA, TAND tỉnh Thanh Hóa; - Các đương sự; - UBND xã X; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Minh Tiến |