vanban.org

Bản án 214/2021/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 15/12/2021 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đặng Mạnh T.

Giao 02 con chung là cháu Đặng Anh Tiến sinh ngày 04 tháng 12 năm 2007 và Đặng Anh Thức sinh ngày 05 tháng 8 năm 2009 cho anh Đặng Mạnh T nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Đặng Mạnh T và Lương Thị Thu Th tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đặng Mạnh T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 214/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 15-12-2021
V/v thay đổi người trực tiếp nuôi
con sau khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Vũ Thị Minh Nguyệt

Ông Phạm Mạnh Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Ngày 15 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 194/2021/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2021 về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 344/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Đặng Mạnh T, sinh năm 1983; nơi cư trú: Bangatan 18 lgh 1303, 171 63 Solna, Vương quốc Thuỵ Điển; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt;

- Bị đơn: Chị Lương Thị Thu Th, sinh năm 1984; nơi cư trú: Số 26 Trần Nhật Duật, phường Cầu Đất, quận NQ, thành phố Hải Phòng; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các bản tự khai đã được hợp pháp hóa lãnh sự, nguyên đơn anh Đặng Mạnh T trình bày:

Anh và chị Lương Thị Thu Th là vợ chồng có đăng ký kết hôn và có 02 con chung là cháu Đặng Anh Tiến, sinh năm 2007 và cháu Đặng Anh Thức, sinh năm 2009. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn nên anh chị đã thỏa thuận ly hôn. Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 53/2010/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2010 của Tòa án nhân dân quận NQ, thành phố Hải Phòng đã quyết định cho anh chị được ly hôn; về việc nuôi con: Giao con chung là Đặng Anh Tiến và Đặng Anh Thức cho chị Lương Thị Thu Th nuôi. Tại Quyết định giải quyết việc dân sự số 35/2010/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 8 tháng 2010 của Tòa án nhân dân quận NQ, thành phố Hải Phòng về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn, giao cho anh T nuôi dưỡng cháu Đặng Anh Tiến; chị Th nuôi cháu Đặng Anh Thức. Nhưng sau đó anh T phải đi làm ăn ở nước ngoài nên đã thỏa thuận với chị Th để hai cháu cho mẹ nuôi dưỡng. Đến nay đã hơn 10 năm, cả hai cháu đều đã lớn, một mình chị Th nuôi hai cháu vất vả, trong khi điều kiện kinh tế của anh ổn định hơn. Do đó, anh T làm đơn đề nghị Tòa án thay đổi trực tiếp nuôi con: Giao cả hai con cho anh T chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, anh không yêu cầu chị Th đóng góp.

Trong bản tự khai của bị đơn gửi cho Tòa án, chị Lương Thị Thu Th trình bày:

Chị thống nhất về quá trình kết hôn, ly hôn, sau khi ly hôn và khi anh T đi nước ngoài thì chị là người trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung. Chị Th trình bày hiện nay hai cháu đã lớn, một mình chị nuôi hai cháu rất vất vả, trong khi điều kiện kinh tế của anh T tốt hơn. Nay anh T làm đơn đề nghị Tòa án thay đổi nuôi con, giao cả hai con chung cho anh Đặng Mạnh T nuôi dưỡng thì chị đồng ý với đề nghị của anh T, giao 02 con cho anh T chăm sóc, nuôi dưỡng.

Cháu Đặng Anh Tiến và cháu Đặng Anh Thức đều có đơn với nội dung đề nghị được ở với bố.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền: Đây là vụ án về thay đổi nuôi con sau khi ly hôn. Nguyên đơn anh Đặng Mạnh T hiện đang sinh sống tại Thụy Điển, bị đơn chị Lương Thị Thu Th và các con chung hiện đang sinh sống tại Hải Phòng, theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn anh Đặng Mạnh T và bị đơn chị Lương Thị Thu Th đều vắng mặt tại phiên tòa và có đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

- Về nội dung:

Xét yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn: Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 53/2010/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2010 của Tòa án nhân dân quận NQ, thành phố Hải Phòng đã quyết định cho anh T và chị Th được ly hôn; về việc nuôi con: Giao con chung là Đặng Anh Tiến và Đặng Anh Thức cho chị Lương Thị Thu Th nuôi. Tại Quyết định giải quyết việc dân sự số 35/2010/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 8 tháng 2010 của Tòa án nhân dân quận NQ, thành phố Hải Phòng về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn, giao cho anh T nuôi dưỡng cháu Đặng Anh Tiến; chị Th nuôi cháu Đặng Anh Thức. Đến nay, cả anh T và chị Th đều xác nhận sau khi anh T đi nước ngoài, hai người đã thỏa thuận giao hai con cho chị Th nuôi dưỡng. Nay anh T có điều kiện kinh tế và chăm sóc con tốt hơn chị Th, anh chị thống nhất đề nghị giao cả hai con chung cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thỏa thuận của anh chị là hoàn T tự nguyện, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế của mỗi bên, phù hợp với nguyện vọng của con chung và đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận sự thỏa thuận của anh chị: Giao 02 con chung cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, anh T không yêu cầu chị Th cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[4 Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[5 Về quyền kháng cáo: Anh Đặng Mạnh T và chị Lương Thị Thu Th được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ khoản 3 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37, điểm i khoản 2 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 273, Điều 469, điểm c khoản 1 Điều 470, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đặng Mạnh T.

Giao 02 con chung là cháu Đặng Anh Tiến sinh ngày 04 tháng 12 năm 2007 và Đặng Anh Thức sinh ngày 05 tháng 8 năm 2009 cho anh Đặng Mạnh T nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Việc cấp dưỡng nuôi con anh Đặng Mạnh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lương Thị Thu Th phải chịu 300.000đ ba trăm nghìn đồng án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho anh Đặng Mạnh T số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ ba trăm nghìn đồng theo Biên lai số 0000093 ngày 15 tháng 11 năm 2021 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.

3. Về quyền kháng cáo:

Anh Đặng Mạnh T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

Chị Lương Thị Thu Th được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ