vanban.org

Bản án 214/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 28/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hƣớng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự sơ thẩm - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 214/2020/HS-ST
Ngày: 28 – 7 - 2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Huỳnh Ngọc Kiệt.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Huỳnh Ngọc Sƣơng;

2. Bà Lê Thị Nguyệt.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Tấn, Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 23 và 28 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 202/2020/TLST-HS ngày 07 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 201/2020/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn L, sinh năm 1961 tại Bình Dƣơng; nơi cƣ trú: Số 56 ấp A, xã A, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L (đã chết) và bà Nguyễn Thị B (đã chết); bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị H, sinh năm 1965 và có 03 con sinh năm 1982, 1985, 1993; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú từ ngày 26/3/2020 cho đến nay, có mặt.

- Bị hại: Ông Phan Thanh T, sinh năm 1970; nơi cƣ trú: 179 Ấp P, xã A, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, có mặt.

- Ngƣời làm chứng: Ông Trần Thanh S, sinh năm 1974, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 30/11/2019, Nguyễn Văn L ngồi ăn uống tại nhà bố, mẹ vợ địa chỉ ấp A, xã A, thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dƣơng. Lúc này, ông Phan Thanh T và ông Trần Thanh S đi ăn uống về, Nguyễn Văn L nhìn thấy liền gọi ông T, S vào cùng ngồi ăn uống. Đến khoảng 16 giờ 00 phút cùng ngày, Nguyễn Văn L và ông T xảy ra mâu thuẫn cự cãi nhau, do ông T đã say rƣợu nên Nguyễn Văn L nói ông S đƣa ông T về nhà ông T. Ông S dẫn ông T đi bộ phía trƣớc còn Nguyễn Văn L đi theo phía sau, khi đƣa ông T về đến nhà, ông S quay lại lấy xe mô tô của ông T về giúp. Lúc này, ông T đi ra cổng nhìn thấy Nguyễn Văn L nên tiếp tục dùng lời lẽ chửi bới, hăm dọa nên Nguyễn Văn L tức giận dùng tay trái có đeo nhẫn vàng tại ngón giữa đấm 01 cái vào vùng mặt bên trái của ông T gây thƣơng tích, làm chảy máu ở vùng cánh mũi, lỗ mũi trái rồi đi bộ về nhà. Ông S điều khiển xe mô tô chạy về thấy ông T bị thƣơng vùng mặt chảy máu nên sơ cứu cho ông T rồi về nhà nghỉ ngơi.

Ngày 03/12/2019, ông Phan Thanh T đến Công an xã A trình báo sự việc và làm đơn yêu cầu khởi tố đối với Nguyễn Văn L về hành vi Cố ý gây thƣơng tích.

Theo Bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số 47/2020/GĐPY ngày 17/01/2020 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Bình Dƣơng kết luận ông Phan Thanh T thƣơng tích nhƣ sau: Chấn thƣơng đầu mặt gãy xƣơng chính mũi, gãy thành trên xoang hàm trái, thành dƣới ổ mắt trái. Chấn thƣơng mắt trái sụp mi độ I, đồng tử dãn nhẹ 3,5mm, liệt thần kinh số III, thị lực 2 mắt: mắt trái 3/10, mắt phải 10/10.

Tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên hiện tại là 34% theo bảng tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể ban hành kèm theo Thông tƣ số 22/2019/TT-BYT do Bộ y tế ban hành ngày 28/8/2019.

Cơ chế hình thành vết thƣơng: Chấn thƣơng gãy xƣơng chính mũi, gãy thành trên xoang hàm trái + thành dƣới ổ mắt trái. Chấn thƣơng mắt trái: Sụp mi độ I, đồng tử dãn nhẹ 3,5mm, liệt thần kinh số III: Đây là các chấn thƣơng kín, không có vết thƣơng ngoài da, khả năng do vật tày tác động vào vùng mặt gây ra.

Tại bản Cáo trạng số 218/CT-VKS-TA ngày 06/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Cố ý gây thƣơng tích” theo các điểm a khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn L. Đồng thời, đánh giá tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thƣờng cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng và tại phiên tòa bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thƣờng gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Bị cáo thống nhất với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, bị cáo rất ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội đã gây ra nên đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất.

Bị hại xác định bị cáo đã bồi thƣờng cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng nên bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thƣờng gì thêm. Bị hại đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng nhƣ nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo trƣớc Tòa. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị hại và ngƣời làm chứng, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 30/11/2019, tại nhà của ông Phan Thanh T tọa lạc tại 179 ấp P, xã A, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, ông Phan Thanh T chửi bới ông Nguyễn Văn L nên ông L dùng tay trái đấm 01 cái vào vùng mặt của bị hại Phan Thanh T gây thƣơng tích cho ông T với tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây ra là 34%.

Hành vi bị cáo dung tay đấm vào vùng mặt gây thƣơng tích cho bị hại Phan Thanh T với tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể là 34%. Nhƣ vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thƣơng tích theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo về tội Cố ý gây thƣơng tích theo điểm a khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng ngƣời và đúng pháp luật.

Sự việc xảy ra do giữa gia đình bị cáo và bị hại xảy ra mâu thuẫn cự cãi trong lúc ngồi ăn uống tại gia đình vợ của bị cáo Nguyễn Văn L. Trong quá trình ăn uống, bị hại Phan Thanh T uống nhiều rƣợu bia không làm chủ đƣợc bản thân nên đã có những lời nói làm ảnh hƣởng đến bản thân và gia đình ông L ; đồng thời cùng với việc xử lý sự việc không phù hợp của bị cáo Nguyễn Văn L dẫn đến gây thƣơng tích cho bị hại T với tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể là 34%.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của ngƣời khác một cách trái pháp luật, gây mất an ninh trật tự xã hội tại địa phƣơng. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức đƣợc hành vi dùng tay đấm vào vùng mặt của bị hại là nguy hiểm và vi phạm pháp luật, có thể gây thƣơng tích cho bị hại nhƣng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bản thân bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án tƣơng xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội nhằm giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo cần xem xét toàn diện về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nguyên nhân xảy ra vụ việc.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chƣa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tự nguyện sửa chữa, bồi thƣờng thiệt hại; bản thân bị cáo đã lớn tuổi (59 tuổi) và bị bệnh đái tháo đƣờng típ 2, cao huyết áp vô căn, Viêm phế quản, Tăng lipid máu hỗn hợp; bị cáo có trình độ văn hóa thấp nên cũng hạn chế một phần về mặt nhận thức pháp luật; đồng thời tại phiên tòa, bị hại cũng xác định có một phần lỗi để dẫn đến bị cáo gây thƣơng tích cho bị hại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Mức hình phạt theo lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là phù hợp quy định của pháp luật. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đƣợc quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo có nơi cƣ trú rõ ràng và việc không bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo hƣởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hƣởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; đồng thời tạo điều kiện cho bị cáo chữa trị bệnh và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo đƣợc hƣởng án treo cũng đủ để giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thƣờng cho bị hại Phan Thanh T số tiền 20.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thƣờng gì thêm nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm a khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

- Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hƣớng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.

- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, cho hƣởng án treo; thời gian thử thách là 05 năm, tính từ ngày tuyên án 28/7/2020.

Giao bị cáo Nguyễn Văn L cho Ủy ban nhân dân xã A, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trƣờng hợp bị cáo Nguyễn Văn L thay đổi nơi cƣ trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo.

2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ