- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trương Công Thương phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QuËn b¾c TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:214/2019/HSST Ngày 25/12/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN quËn b¾c TỪ LIÊM, TP. HÀ NỘI
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Thế Vinh;
- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Thùy Vân - Thư ký Toà án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Thiện - Kiểm sát viên.
Ngày 25/12/2019, Trụ sở Tòa án nhân dân, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự thụ lý số: 237/2019/HSST ngày 16 tháng 12 năm 2019, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trương Công Thương; Giới tính: Nam - Sinh ngày: 12/8/1990.
Nơi cư trú: thôn Sở Núi, xã Thanh Tâm, huyện Thanh Liêm, Hà Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Trương Công Thục – SN: 1945 (đã chết) và con bà Lê Thị Quý – Sinh năm 1950; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Gia đình bị can có 04 người con, bị can là con thứ 4; Có vợ Nguyễn Thị Thúy – Sinh năm 1990; Nghề nghiệp: Làm ruộng; có 01 con ( sinh năm 2015).
* Tiền án, Tiền sự: 01 tiền án
- Tại bản án số 22/2018/HSST ngày 07/02/2018 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, TP. Hà Nội tuyên phạt Trương Công Thương 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/5/2018.
Danh bản và chỉ bản số: 000408, lập ngày 27/8/2019, tại Công an quận Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 24/8/2019 và tạm giam tại Trại tạm giam số I – Công an TP Hà Nội. Có mặt.
- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Sửu, sinh năm 1973; Nơi đăng ký NKTT: Tổ dân phố Nguyên Xá 2, phường Minh Khai, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15h ngày 24/8/2019 Trương Công Thương (Sinh năm 1990; đăng ký nhân khẩu thường trú: Thôn Sở Núi, xã Thanh Tâm, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam) đến khu vực TDP Nguyên Xá 2, Minh Khai, Bắc Từ Liêm, Hà Nội mục đích tìm sở hở trộm cắp tài sản. Đến 15h 30’ cùng ngày Thương phát hiện nhà chị Nguyễn Thị Sửu (Sinh năm 1973, địa chỉ: TDP Nguyên Xá 2, Bắc Từ Liêm, Hà Nội) cửa mở, không có người trong nhà, Thương vào trong nhà cầm 01 điện thoại Iphone 6 màu trắng bạc trị giá 2.700.000 đồng của chị Sửu để trên bàn uống nước và đi ra ngoài. Khi Thương đi đến cửa thì bị chị Nguyễn Thị Hồng Nhung (Sinh năm 1999) là con gái chị Sửu phát hiện, hô hoán, Thương cất điện thoại vào túi quần bên phải rồi bỏ chạy được một đoạn thì bị tổ công tác công an phường Minh Khai phối hợp với quần chúng nhân dân phát hiện bắt giữ.
Chị Nguyễn Thị Sửu đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường dân sự.
Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 01 ngày 11/9/2019 Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội đã truy tố Trương Công Thương về tội Trộm cắp tài sản, theo Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung quyết đã truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.
Đại điện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
+ Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015; Điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo mức án từ 12 đến 16 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không còn yêu cầu gì về dân sự nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, rõ ràng, phù hợp với quy định của pháp luật; bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Những căn cứ xác định tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, vật chứng được thu giữ, kết quả định giá, lời khai của bị hại, người làm chứng cùng các chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ ngày 24/8/2019, Trương Công Thương đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 điện thoại di động Iphone 6 màu bạc trị giá 2.700.000 đồng của chị của chị Nguyễn Thị Sửu. Tài sản đã thu hồi trao trả chủ sở hữu.
Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản có giá trị 2.700.000 đồng như nêu trên của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại Điểm Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ và còn gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an ở địa phương, gây tâm lý hoang mang trong nhân dân. Bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo từng bị xử phạt về hành vi trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Vì vậy, cần phải xét xử nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm đảm bảo tính giáo dục đối với bị cáo và làm bài học ngăn ngừa chung.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét: Tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn nên áp dụng Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Trương Công Thương phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Trương Công Thương: 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù từ ngày 24/8/2019.
3. Áp dụng Điều 135; Khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trương Công Thương phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND quận Bắc Từ Liêm; - VKSND thành phố Hà Nội; - TAND thành phố Hà Nội; - Công an quận Bắc Từ Liêm; - Chi cục Thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm; Lưu HS, VP. | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đặng Thế Vinh |