vanban.org

Bản án 213/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Nam Định, tỉnh Nam Định Tuyên án 21/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Sỹ Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Sỹ Th 33 (Ba ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11-7-2023. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Sỹ Thắng - TCTS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Sỹ Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ N
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 213/2023/HSST
Ngày: 21-9-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Công Khánh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Dương Thị Hường

2. Ông Phạm Tiến Dũng

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N tham gia phiên tòa: Ông Phạm Bá Hiệp - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 197/2023/TLST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 197/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Sỹ Th, sinh năm 1990; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; nơi sinh: Tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Thôn 7, xã M, huyện M1, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; văn hóa: 9/12; con ông: Trần Sỹ T (Đã chết), con bà: Đoàn Thị Bích H (Đã chết); gia đình có 02 chị em bị cáo là con thứ hai; không có vợ, con; tiền án: Ngày 29-10-2009, Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định xử phạt Trần Sỹ Th 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Chấp hành án xong hình phạt tù ngày 11-5-2010), ngày 23-3-2012, Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định xử phạt Trần Sỹ Th 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (Chấp hành án xong hình phạt tù ngày 31-12-2014), ngày 30-3-2016, Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt Trần Sỹ Th 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Chấp hành án xong hình phạt tù ngày 23-12-2018, ngày 07-5-2020, Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt Trần Sỹ Th 02 năm 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Chấp hành án xong hình phạt tù ngày 31-7-2022); tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11-7-2023 sau đó chuyển tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N; (Có mặt).

- Bị hại: Anh Trần V, sinh năm 1985; nơi cư trú: Xóm 2, thôn P, xã L, thành phố N, tỉnh Nam Định

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 40 phút, ngày 10-7-2023, anh Hoàng Văn Luận, sinh năm 1986, trú tại số 02/25/103 Đ, phường Lộc H, thành phố N điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 18C-037.03 chở anh Trần V, sinh năm 1986; trú tại xóm 2 P, phường Lộc H1, thành phố N là chủ xe ô tô, ngồi tại ghế phụ của xe. Khi đến cửa hàng tạp hóa Hùng Mạnh số 683 đường G, phường V, thành phố N thì dừng xe (đầu xe hướng về ngã 4 Tr, đuôi xe hướng về đường S), hai anh xuống xe không tắt máy, không chốt cửa xe, mở cửa thùng xe bên phải để chuyển hàng vào cửa hàng tạp hóa Hùng Mạnh. Anh Việt khi xuống xe để chiếc điện thoại Samsung A51, màu đen tại ghế phụ vừa ngồi. Khoảng 05 phút sau, Trần Sỹ Th đi bộ trên đường nhìn thấy chiếc xe ô tô tải đang đỗ trước cửa hàng tạp hóa Hùng Mạnh, anh Luận và anh Việt đang bốc hàng ở phía thùng xe bên phải. Th tiếp cận cửa xe ô tô bên ghế lái, nhìn qua ô cửa kính, thấy chiếc điện thoại Samsung A51, màu đen tại ghế phụ xe ô tô, tay phải Th mở cửa xe nhoài người sang bên ghế phụ lấy chiếc điện thoại SamSung A51 của anh Việt rồi nhanh chóng rời khỏi hiện trường đi đến cửa hàng điện thoại “Phương Nam” số 255 đường Điện Biên, phường Cửa Bắc, thành phố N gặp chủ cửa hàng là anh Trần Huy N, sinh năm 1997, thường trú tại thôn 1, xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam nói là tài sản của Th cầm cố được 1.000.000 đồng tiêu xài cá nhân hết.

Sau khi bốc hàng xong, lên xe anh Việt phát hiện chiếc điện thoại bị mất nên đến Công an phường V, thành phố N trình báo sự việc.

Quá trình điều tra, ngày 11-7-2023, Trần Sỹ Th đã đến Công an phường V, thành phố N đầu thú.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Sỹ Th đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của anh Trần V.

Quá trình làm việc với Cơ quan điều tra, anh Trần Huy Nam sau khi biết được tài sản trên là vật chứng của vụ án đã tự nguyện giao nộp.

Bản kết luận định giá tài sản số 30/KL-HĐĐGTS ngày 12-7-2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố N đã kết luận: 01 chiếc điện thoại SamSung A51, màu đen, Imei1: 352353111501034; Imei2: 352354111501032 trị giá 3.000.000 đồng. Cơ quan điều tra đã trả lại anh Trần V, anh Việt nhận lại và không có đề nghị gì.

Anh Trần Huy Nam nhận cầm cố chiếc điện thoại SamSung A51 không biết là tài sản do Trần Sỹ Th phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý. Anh Nam không yêu cầu Trần Sỹ Th phải trả lại số tiền 1.000.000 đồng.

Bản cáo trạng số 211/CT-VKSTPNĐ ngày 31-8-2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố bị cáo Trần Sỹ Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Sau đây được viết tắt là BLHS).

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Sỹ Th khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như bản cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N giữ quyền công tố tại phiên toà, luận tội và tranh luận: Giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Sỹ Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ điềm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS: Xử phạt bị cáo Trần Sỹ Th từ 03 năm Đến 03 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vấn đề dân sự: Không xem xét giải quyết

Bị cáo Trần Sỹ Th không tranh luận gì và nói lời sau cùng: Do thiếu hiểu biết mà phạm tội nên xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Sỹ Th tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 09 giờ 45 phút, ngày 10-7-2023, tại khu vực đường G, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định, Trần Sỹ Th đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của anh Trần V 01 chiếc điện thoại SamSung A51 trị giá 3.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo Trần Sỹ Th đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo hộ; bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn thực hiện vì mục đích tư lợi, lỗi của bị cáo là lỗi cố ý. Bị cáo đã tái phạm chưa được xóa án tích lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Do đó, lần phạm tội này bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp định khung “Tái phạm nguy hiểm” nên tội phạm và hình phạt quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS, nên quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N là đúng pháp luật.

Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo Trần Sỹ Th đã thành khẩn khai báo đối với hành vi phạm tội của mình, sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

Bị cáo tuy có 04 tiền án nhưng đã thuộc trường hợp định khung “Tái phạm nguy hiểm” nên không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Sỹ Th gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N, bị cáo có nhân thân rất xấu đã nhiều lần bị kết án. Vì vậy lần phạm tội này cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn nghiêm khắc nhằm răn đe, giáo dục đối với bị cáo. Tuy nhiên cũng cần xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt nên quan điểm của Kiểm sát viên là tương đối phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử sẽ không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Đối với anh Trần Huy Nam không biết chiếc điện thoại di động là do Trần Sỹ Th trộm cắp được mà có nên cơ quan điều tra công an thành phố N không tiến hành xử lý là đúng quy định của pháp luật.

Về bồi thường dân sự: Anh Trần Huy Nam không yêu cầu bị cáo phải bồi thường khoản tiền cần cố chiếc điện thoại, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo Trần Sỹ Th bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Sỹ Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS;

Xử phạt bị cáo Trần Sỹ Th 33 (Ba ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11-7-2023.

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

3. Án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Trần Sỹ Th phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:

Bị cáo Trần Sỹ Th có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ