vanban.org

Bản án 213/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng vào các Điều 107, 110, 116, 117, 119 Luật hôn nhân và gia đình;

Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Thanh T. Buộc anh Trần Văn H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Trần Lê Tường V - sinh ngày 07/2/2010, mỗi tháng là 745.000 đồng (bảy trăm bốn mươi lăm nghìn đồng), bắt đầu thực hiện ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu V đủ 18 t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa nguyên đơn Lê Thị Thanh T và bị đơn Trần Văn H"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng vào các Điều 107, 110, 116, 117, 119 Luật hôn nhân và gia đình;
  • Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ CÔNG TÂY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 213/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 21/7/2020.
V/v tranh chấp: yêu cầu cấp
dưỡng nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG TÂY

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn Anh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Thảnh

2. Bà Nguyễn Thị Mỹ Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Ngân, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Tây tham gia phiên Tòa: ông Nguyễn Văn Quí - Kiểm sát viên

Trong ngày 21 tháng 07 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 130/2020/TLST-HNGĐ ngày 15/5/2020 về việc “yêu cầu cấp dưỡng nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2020/QĐST- HNGĐ ngày 22/06/2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 51/2020/QĐST-HNGĐ ngày 02/07/2020 của Toà án nhân dân huyện Gò Công Tây, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: LÊ THỊ THANH T – sinh năm 1983;

Địa chỉ: ấp P, xã Y, huyện G, Tiền Giang.

2. Bị đơn: TRẦN VĂN H – sinh năm 1981;

Địa chỉ: ấp P, xã Y, huyện G, Tiền Giang.

(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Thanh T trình bày: chị và anh Trần Văn H đã ly hôn theo quyết định số 82/2017/QĐST-HNGĐ ngày 28/3/2017. Theo đó chị được quyền nuôi dưỡng hai con tên Trần Lê Thanh N - sinh ngày 07/8/2002 và Trần Lê Tường V - sinh ngày 07/2/2010, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung không giải quyết. Từ khi ly hôn đến nay, hai con vẫn do chị trực tiếp nuôi dưỡng, anh H hoàn toàn không phụ chị bất cứ chi phí nào để nuôi con. Hai cháu càng lớn nhu cầu về sinh hoạt phí, học tập lẫn các vật chất khác ngày càng cao, bản thân chị không thể nào đáp ứng được đầy đủ các nhu cầu vật chất phục vụ cuộc sống cho con. Chi phí trung bình một tháng cho cháu Trần Lê tường V là 4.000.000 đồng gồm: chi phí cho học tập là 1.500.000 đồng; tiền ăn là 2.000.000 đồng; tiền quần áo là 300.000 đồng; tiền thuốc khám bệnh là 200.000 đồng và nhiều chi phí khác. Trách nhiệm nuôi con là đương nhiên của cả cha và mẹ nên chị yêu cầu anh H phải cùng san sẽ với chị nhằm nhắc nhở trách nhiệm làm cha của anh H. Theo quy định thì người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Nay chị yêu cầu anh Trần Văn H cấp dưỡng nuôi cháu Trần Lê Tường V mỗi tháng là 2.000.000 đồng, thực hiện từ ngày khởi kiện cho đến khi cháu V tròn 18 tuổi.

* Bị đơn anh Trần Văn H đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng cho anh H nhưng anh H không đến Tòa án và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị T.

Tại phiên tòa hôm nay:

Nguyên đơn chị Lê Thị Thanh T yêu cầu anh Trần Văn H cấp dưỡng nuôi cháu Trần Lê Tường V mỗi tháng là 2.000.000 đồng, và bổ sung yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi cháu Trần Lê Thanh N - sinh ngày 07/8/2002 mỗi tháng là 2.000.000 đồng, thực hiện ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Bị đơn anh Trần Văn H vắng mặt.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng pháp luật tố tụng dân sự và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị Lê Thị Thanh T. Buộc anh Trần Văn H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Trần Lê Tường V - sinh ngày 07/2/2010 mỗi tháng là 745.000 đồng, bắt đầu thực hiện ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu V đủ 18 tuổi, lao động được. Đối với yêu cầu cấp dưỡng cháu Trần Lê Thanh N - sinh ngày 07/8/2002 đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét do vượt quá yêu cầu khởi kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xác định quan hệ đang tranh chấp là “yêu cầu cấp dưỡng nuôi con”.

Xét bị đơn anh Trần Văn H đã được triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai` nhưng anh H vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt anh H.

Xét yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Thanh T là có cơ sở một phần: vì chị Lê Thị Thanh T và anh Trần Văn H đã thuận tình ly hôn được Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang giải quyết bằng Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 82/2017/QĐST-HNGĐ ngày 28/3/2017. Theo Quyết định số 82 thì chị T được nuôi dưỡng hai cháu Trần Lê Thanh N - sinh ngày 07/8/2002 và Trần Lê Tường V - sinh ngày 07/2/2010, anh Trần Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con. Nhưng hiện nay cháu V càng lớn thì chi phí cho nhu cầu thiết yếu của cháu V càng cao, nên chị T yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi cháu V. Theo quy định Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình thì cha mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên. Hiện cháu V chưa thành niên nên anh H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu V. Tuy nhiên, về mức cấp dưỡng thì theo quy định tại khoản 1 Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình thì mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nhưng chị T và anh H không thỏa thuận được, chị T không có chứng cứ chứng minh được thu nhập thực tế của anh H, hiện anh H có gia đình khác và có con, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của anh H và nhu cầu thiết yếu của cháu V, đồng thời theo quy định của pháp luật, mức cấp dưỡng mỗi tháng không quá ½ mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định là 745.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử buộc anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu V mỗi tháng là 745.000 đồng, bắt đầu thực hiện ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật, là phù hợp với Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình.

Đối với yêu cầu của chị T về việc yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi cháu Trần Lê Thanh N - sinh ngày 07/8/2002, mỗi tháng là 2.000.000 đồng. Xét yêu cầu này của chị T đã vượt quá yêu cầu khởi kiện, nên yêu cầu này không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên anh H phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 174, 175, 227, 228, 233, 235, 244 Bộ luật tố tụng dân sự

- Áp dụng vào các Điều 107, 110, 116, 117, 119 Luật hôn nhân và gia đình;

- Áp dụng điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Thanh T.

Buộc anh Trần Văn H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Trần Lê Tường V - sinh ngày 07/2/2010, mỗi tháng là 745.000 đồng (bảy trăm bốn mươi lăm nghìn đồng), bắt đầu thực hiện ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu V đủ 18 tuổi, lao động được.

Không chấp nhận một phần yêu cầu của chị Lê Thị Thanh T về việc yêu cầu anh Trần Văn H cấp dưỡng nuôi cháu Trần Lê Thanh N - sinh ngày 07/8/2002, mỗi tháng là 2.000.000 đồng.

- Về án phí: chị Lê Thị Thanh T được miễn nộp tiền tạm ứng án phí và án phí

Anh Trần Văn H phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

Báo nguyên đơn có mặt biết được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Báo bị đơn vắng mặt biết được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt án văn hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Cỡ chữ