- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Xử: [1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Đào A.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 213/2020/HN-ST Ngày: 22/5/2020 V/v “Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Cẩm Tiên.
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Trương Hoàng Hoa
+ Ông Nguyễn Trung Trực
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thanh Phong - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Tuyết Hằng – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân thụ lý số 97/2020/TLST-HNGĐ ngày 25/2/2020 về việc “Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 4 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:
1. A đơn: Nguyễn Đào A – sinh năm: 1979 (có mặt)
Địa chỉ: ấp M, xã N, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.
2. Bị đơn: Nguyễn Thị B – sinh năm 1981 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: ấp M1, xã N1, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* A đơn anh Nguyễn Đào A trình bày: anh và chị B sống chung năm 2005. Quá trình chung sống do vợ chồng bất đồng quan điểm sống và thường xuyên phát sinh mâu thuẩn nên anh và chị B ly hôn năm 2019 theo quyết định thuận tình ly hôn số 624/2019/QĐST-HNGĐ ngày 8/11/2019. Theo quyết định thì chị B nuôi cháu Nguyễn Thanh C, sinh ngày 27/4/2011 và anh nuôi cháu Nguyễn Trà D, sinh ngày 5/2/2006. Trong quá trình nuôi cháu C, chị B không chăm sóc cháu mà ngược đãi, đánh đập cháu. Khi cháu C về sống với anh thì chị B cũng không có điện thoại hỏi thăm cháu. Cháu C hiện nay đã về sống cùng với anh và cháu Lam. Nay anh yêu cầu được nuôi cháu C, không yêu cầu chị B cấp dưỡng nuôi con.
* Bị đơn chị Nguyễn Thị B trình bày: chị và anh A sống chung năm 2005 và ly hôn theo quyết định thuận tình ly hôn số 624/2019/QĐST-HNGĐ ngày 8/11/2019. Theo quyết định thì chị nuôi cháu Nguyễn Thanh C, sinh ngày 27/4/2011 và anh A nuôi cháu Nguyễn Trà D, sinh ngày 5/2/2006. Trong quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng cháu C thì chị vẫn lo cho cháu chu đáo, cháu đang học lớp 3 trường tiểu học Lê Văn Tám ở quận 6, thành phố Hồ Chí Minh. Do dịch bệnh nên cháu được nghỉ học về quê. Trong thời gian nghỉ học cháu trở về sống chung với anh A và cháu Lam. Nay anh A yêu cầu được nuôi cháu C thì chị không đồng ý, chị đồng ý giao cháu cho anh A nuôi với điều kiện là anh A giao lại chị số tiền 50.000.000 đồng chia tài sản chung giữa chị và anh A trong thời gian sống chung.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân thủ đúng quy định pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Đào A. Giao cháu Nguyễn Thanh C, sinh ngày 27/4/2011 cho anh A trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc, chị B không phải cấp dưỡng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra cũng như tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Anh Nguyễn Đào A và chị Nguyễn Thị B sống chung năm 2005, đến năm 2019 anh A và anh B ly hôn. Nay anh A yêu cầu xin thay đổi trực tiếp người nuôi con sau khi ly hôn và bị đơn chị Nguyễn Thị B cư trú trên địa bàn huyện Chợ Gạo nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo.
Bị đơn chị Nguyễn Thị B có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị B theo quy định tại khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Xét đơn yêu cầu của anh Nguyễn Đào A, Hội đồng xét xử thấy rằng: anh A và chị B ly hôn vào năm 2019 theo quyết định thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 624/2019/QĐST-HNGĐ ngày 8/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo. Theo quyết định thì chị B nuôi cháu Nguyễn Thanh C, sinh ngày 27/4/2011 và anh A nuôi cháu Nguyễn Trà D, sinh ngày 5/2/2006. Tại phiên tòa, anh A yêu cầu xin thay đổi người trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Thanh C, sinh ngày 27/4/ 2011. Chị B xin vắng mặt nhưng tại bản tự khai và biên bản hòa giải chị trình bày là không đồng ý giao cháu C cho anh A nuôi dưỡng. Theo biên bản ghi lời khai cháu C trình bày khi cháu sống với chị B thì cháu bị chị B đánh, không trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cháu mà giao cháu cho cậu, dì (anh, chị của chị B) chăm sóc. Khi cháu ở chung với cậu, dì thì cháu thường xuyên bị cậu, dì bạo hành, hiện nay cháu có nguyện vọng sống với ba (anh A), chị hai (cháu Nguyễn Trà D) và ông bà nội. Xét thấy trong quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng cháu C, chị B không chăm sóc tốt cho cháu mà giao cháu cho người khác chăm sóc, có hành vi đánh cháu, điều đó cho thấy chị B không có điều kiện trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cháu C, nếu tiếp tục giao cháu C cho chị B nuôi dưỡng sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển về thể chất và tâm sinh lý của cháu. Hơn nữa hiện nay cháu C đang sống với anh A và cháu cũng có nguyện vọng sống với ba. Trong bản tự khai chị B trình bày là thời gian anh A rước cháu C về sống chung thì anh A không dạy dỗ cháu C tốt và anh đã có người phụ nữ khác về chung sống nhưng chị không có gì chứng minh, chị yêu cầu anh A hoàn lại số tiền chia đôi tài sản chung giữa chị và anh A khi ly hôn thì chị đồng ý giao cháu C cho anh A nuôi dưỡng là không có cơ sở. Do đó chấp nhận yêu cầu của anh A, giao cháu Nguyễn Thanh C, sinh ngày 27/4/2011 cho anh A nuôi dưỡng khi cháu C đủ 18 tuổi, lao động được. Anh A không yêu cầu chị B cấp dưỡng nên chị B không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát.
Về án phí: Chị B phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng các Điều 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Xử: [1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Đào A.
Giao cháu Nguyễn Thanh C, sinh ngày 27/4/2011 cho anh Nguyễn Đào A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Chị B không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Không ai được quyền ngăn cản việc thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung sau khi ly hôn.
[2] Về án phí: Chị Nguyễn Thị B phải chịu 300.000 đồng án phí HNST.
Hoàn lại cho anh A số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0003472 ngày 25/2/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Đối với chị B thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự./.
| * Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND huyện Chợ Gạo; - Chi cục THADS huyện Chợ Gạo; - Đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phan Thị Cẩm Tiên |