- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Hoàng C và đồng bọn - phạm tội giết người (điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Lê Hoàng C và của đại diện bị hại Huỳnh Thị Ý N. Và phần đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Bùi Lê Huy S của chị Ngô Thị Thúy H và Huỳnh Thanh Nguyễn T.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 104 Bộ luật Hình sự
| TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 213/2017/HSPT Ngày: 22/8/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Xuân Thành
Các thẩm phán:
Ông Trần Minh Tuấn
Ông Phạm Việt Cường
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Đức, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Lê Ra, Kiểm sát viên.
Vào ngày 22 tháng 8 năm 2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 215/2017/HSPT ngày 28/6/2017 đối với
Lê Hoàng C và đồng phạm về tội “Giết người, Cố ý gây thương tích, Hủy hoại tài sản”. Do có kháng cáo của các bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại, đối với bả thẩm số 16/2017/HSST ngày 18/5/2017 của Tòa án nhân
.
1. Bị cáo có kháng cáo:
1.1. Lê Hoàng C (B) - sinh năm 1989; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở trước khi bị bắt: xã V, tp N; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Cha: Lê Hùng C (1959); Mẹ: Nguyễn Thị Bích L (1964); Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 10/10/2015, có mặt.
1.2. Bùi Lê Huy S - sinh năm 1982; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở trước khi bị bắt: xã V, tp N; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Cha: Bùi L (1955); Mẹ: Lê Thị Thúy N (1954); Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/10/2015, có mặt.
1.3. Nguyễn Phúc Q - sinh năm 1994; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở trước khi bị bắt: xã V, tp N; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Cha: Nguyễn Phúc T (1956); Mẹ: Nguyễn Thị L (1952); Tiền án. tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 10/10/2015, có mặt.
1.4. Ngô Vũ Hoàng T - sinh năm 1997; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở trước khi bị bắt: xã V, tp N; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Cha: Ngô Văn M (1970); Mẹ: Huỳnh Thị H (1966); Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/10/2015, có mặt.
2. Người bào chữa cho các bị cáo:
2.1. Luật sư Lê Văn T - Văn phòng luật sư Lê Văn T và cộng sự, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Khánh Hòa - bào chữa cho bị cáo Bùi Lê Huy S theo chỉ định của Tòa án, có mặt.
2.2. Luật Lê Đình H - Văn phòng luật sư Phan Tấn H, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Khánh Hòa - bào chữa cho bị cáo Nguyễn Phúc Q theo yêu cầu của Tòa án, có mặt.
2.3. Luật sư Nguyễn Thành C - Văn phòng luật sư Phan Bạch M, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Khánh Hòa - bào chữa cho các bị cáo Lê Hoàng C, Ngô Vũ Hoàng T theo yêu cầu của Tòa án, có mặt.
3. Người bị hại:
3.1. Anh Huỳnh Thanh Trung T (chết ngày 09/10/2015).
3.2. Chị Huỳnh Ý N - sinh năm 1992. Địa chỉ: khu đô thị T, tp N, có mặt.
3.3. Anh Lê Xuân H - sinh năm 1986. Địa chỉ: 63 đường số 6, Hòa Trung, xã H, tp N, vắng mặt.
3.4. Anh Bùi Diễn C - sinh năm 1991. Địa chỉ: Tổ 6 Hòa Nam, xã H, tp N, vắng mặt.
3.5. Anh Nguyễn Đình T - sinh năm 1986. Địa chỉ: số 07 Lê Văn Huân, xã H, tp N, vắng mặt.
4. Đại diện hợp pháp của người bị hại Huỳnh Thanh Trung T (chết):
4.1. Chị Huỳnh Ý N - sinh năm 1992.
4.2. Cháu Huỳnh Thanh Gia H - sinh năm 2013.
Người giám hộ của cháu Gia H là chị Huỳnh Ý N (mẹ ruột cháu Gia H). Địa chỉ: phường V, thành phố tp N, tỉnh Khánh Hòa, có mặt chị N.
4.3. Cháu Huỳnh Thanh Nguyên T - sinh năm 1997. Địa chỉ: xã T, tp N, tỉnh Khánh Hòa, có mặt.
4.4. Cháu Huỳnh Ngô Gia H1 - sinh ngày 19/10/2003. Địa chỉ: phường L, tp N, vắng mặt.
Người giám hộ của cháu Gia H là chị Ngô Thị Thúy H 1(mẹ ruột cháu Gia H1). Địa chỉ: khu đô thị T, tp N, có mặt chị H.
Ngoài ra trong vụ án còn có 02 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do trước đây có mâu thuẫn với Huỳnh Thanh Trung T, nên vào khoảng 00 giờ 10 phút ngày 09/10/2015, sau khi nhậu xong, Lê Hoàng C rủ Bùi Lê Huy S, Nguyễn Phúc Q, Ngô Vũ Hoàng T đi tìm Trung T để đánh, cả bọn đồng ý. Sau đó, Q đi lấy 03 cây mác và 01 mã tấu đem về đưa cho T 01 cây mã tấu, còn lại C, S, Q mồi người cầm một cây mác. Khi đi, Q điều khiển xe máy chở C, T chở S đến phòng trọ của Trung T ở xã H, tp N để tìm đánh Trung T. Lúc này, Trung T đang ngồi đánh bài cùng chị Huỳnh Ý N (vợ Trung T), Nguyễn Đình T, Bùi Diễn C, Nguyễn Trọng V (bạn Trung T) tại quán cà phê KN xã H, tp N. Trên đường đi đến phòng trọ của Trung T, nhóm C phát hiện Trung T đang ngồi ở quán KN nên dừng xe trước cửa quán. Sau đó, C, S, Q, T cầm mác và mã tấu xông vào quán đánh, chém Trung T và những người có mặt trong quán. Trung T bỏ chạy ra ngoài thì C, S cầm mác đuổi theo. Còn Q, T đuổi đánh nhóm bạn của Trung T. Thấy Trung T bị đuối đánh, chị N cầm 01 chiếc ghế gỗ đuổi theo thì bị S cầm mác chém 01 nhát trúng vào vùng mặt làm chị N bỏ chạy. Khi đuổi kịp Trung T, C và S dùng mác chém nhiều nhát vào người làm Trung T gục chết tại chỗ. Sau khi chém anh Trung T xong, S và C quay lại quán cà phê KN dùng mác, ghế gồ đập. phá tài sản. Trong đó S đập, phá: 02 xe máy BKS 37L2-63XX và BKS 38D1-116.XX; 01 màn hình ti vi hiệu Sony 42inch và 01 màn hình laptop hiệu Compaq. C đập, phá: 01 xe máy BKS 37B-003.XX và 01 tivi hiệu Panasonic 32 inch. Riêng Q dùng mác đập phá 01 xe máy BKS 79L1-39XX và chém vỡ 01 màn hình máy vi tính hiệu LG.
Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, Bùi Lê Huy S bị cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Khánh Hoà băt giữ. Ngô Vũ Hoàng T, Lê Hoàng C, Nguyễn Phúc Q ra đầu thú. Tại cơ quan điều tra S, C, Q, T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 249 ngày 16/10/2015 của Trung Tâm pháp y tỉnh Khánh Hòa, kêt luận nguyên nhân trực tiếp gây tử vong của anh Huỳnh Thanh Trung T là: Suy tuần hoàn - Liệt tủy do vết thương xuyên thấu cổ gây đứt mạch máu, thần kinh, tủy sống cổ, vỡ đốt sống cổ. Phù hợp với tác nhân là vật sắc nhọn theo chiều hướng từ trên xuống dưới, từ trái sang phải, từ ngoài vào trong.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 18 ngày 20/01/2016 của Trung Tâm pháp y tỉnh Khánh Hoà, kết luận: Tỷ lệ thương tổn cơ thể do thương tích gây nên cho Huỳnh Ý N hiện tại là 61%.
Tại bản kết luận số 3011 ngày 25/7/2016 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Khánh Hòa xác định giá trị phần thiệt hại trưng cầu:
- Một xe mô tô BKS 37B-003.XX hiệu Sirius, bị thiệt hại: Vỡ bảo vệ xe trước bên phải. Gãy, vỡ chắn bùn trước. Giá trị thiệt hại của tài sản là 375.000đ.
- Một xe mô tô BKS 79L1-39XX loại xe Wave hiệu Arow, bị thiệt hại: Vỡ đèn trước, ốp nhựa bảo vệ trước, chắn bùn trước, bửng trước phải, nút chắn bùn sau bên phải. Giá trị thiệt hại của tài sản là 690.000đ.
- Một xe mô tô BKS 38D1-116.XX hiệu Excitex, bị thiệt hại: nứt vỡ nhựa bảo vệ trước, chắn bùn trước, gãy chắn bùn. Giá trị thiệt hại của tài sản là 751.000đ.
- Một xe mô tô BKS 37L2-63XX, bị thiệt hại: Đèn trước rời khỏi vị trí, vỡ ốp bảo vệ trước. Giá trị thiệt hại của tài sản là 320.000đ.
- Một màn hình laptop hiệu Compaq, bị thiệt hại: Vỡ màn hình. Giá trị phần thiệt hại của tài sản là 4.955.400đ.
- Một tivi hiệu Sony (mua năm 2013) 42 inch, bị thiệt hại: Vỡ màn hình. Giá trị phần thiệt hại của tài sản là 4.000.000đ.
- Một tivi hiệu Panasonic (mua năm 2013) 32 inch, bị thiệt hại: Vỡ màn hình. Giá trị phần thiệt hại của tài sản là 4.080.000đ.
- Một màn hình máy tính hiệu LG, bị thiệt hại: Vỡ màn hình. Giá trị phần thiệt hại của tài sản là 1.110.000đ.
16/2017/HSST ngày 18/5/2017
Tuyên bố:
- Các bị cáo Lê Hoàng C, Bùi Lê Huy S, Nguyễn Phúc Q, Ngô Vũ Hoàng T đều phạm tội “Giết người”.
- Các bị cáo Bùi Lê Huy S, Lê Hoàng C đều phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
- Bị cáo Bùi Lê Huy S phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
1. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 93; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Bùi Lê Huy S, Lê Hoàng C, Nguyễn Phúc Q, Ngô Vũ Hoàng T.
Áp dụng khoản 1 Điều 143; Điều 50 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Bùi Lê Huy S, Lê Hoàng C.
Áp dụng khoản 3 Điều 104 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Bùi Lê Huy S.
Tuyên xử:
- Xử phạt bị cáo Lê Hoàng C (B) 19 (mười chín) năm tù về tội “Giết người”; 09 (chín) tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”.
Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Lê Hoàng C (B) phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 19 (mười chín) năm 09 (chín) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bắt tạm giam ngày 10/10/2015.
- Xử phạt bị cáo Bùi Lê Huy S 19 (mười chín) năm tù về tội “Giết người’; 07 (bảy) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”; 01 (một) năm tù về tội “Hủy hoại tài sản”.
Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Bùi Lê Huy S phải chấp hành hình phạt chung cho cả ba tội là 27 (hai mươi bảy) năm tù.
Thời hạn tù tính từ bắt tạm giam ngày 09/10/2015.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Phúc Q 13 (mười ba) năm tù về tội “Giết người”.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bắt tạm giam ngày 10/10/2015.
- Xử phạt bị cáo Ngô Vũ Hoàng T 12 (mười hai) năm tù về tội “Giết người”.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bắt tạm giam ngày 09/10/2015.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm bồi thường dân sự, quy định về thi hành án dân sự, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 23/5/2017, bị cáo Lê Hoàng C và Nguyễn Phúc Q kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 29/5/2017, bị cáo Ngô Vũ Hoàng T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 22/5/2017, đại diện hợp pháp của người bị hại Huỳnh Thanh Trung T là chị Huỳnh Thanh Nguyên T và bà Ngô Thị Thúy H người giám hộ của cháu Huỳnh Ngô Gia H1 là đại diện hợp pháp của người bị hại Huỳnh Thanh Trung T có đơn kháng cáo tăng hình phạt đối với bị cáo Lê Hoàng C và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Bùi Lê Huy S.
Ngày 25/5/2017, người bị hại đồng thời là đại diện hợp pháp của người bị hại Huỳnh Thanh Trung T là chị Huỳnh Ý N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Lê Hoàng C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Lê Hoàng C, Nguyễn phúc Q và Ngô Vũ Hoàng T vẫn giữ nguyên đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Người đại diện hợp pháp cho bị hại Huỳnh Thanh Trung T là chị Huỳnh Ý N vẫn giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho Lê Hoàng C, chị Huỳnh Thanh Nguyễn T và bà Ngô Thúy H kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt đối với Lê Hoàng C và xin giảm hình phạt đối với Bùi Lê Huy S.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, lời khai của các bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại và kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy: Do có mâu thuẫn từ trước giữa Huỳnh Thanh Trung T với Lê Hoàng C, nên vào khoảng 00 giờ 10 phút ngày 09/10/2015, sau khi nhậu xong Lê Hoàng C đã rủ Bùi Lê Huy S, Nguyễn Phúc Q, Ngô Vũ Hoàng T đi tìm Trung T để đánh và được cả bọn đồng ý. Sau đó Q đi lấy 03 cây mác và 01 cây mã tấu đem về đưa cho T 01 cây mã tấu, còn lại mỗi người một cây mác rồi 04 bị cáo chở nhau đi tìm Trung T. Khi thấy Trung T đang ngồi trong quán KN cả bọn dừng xe trước cửa quán xông vào quán đánh, đập phá tài sản. C và S đã dùng mác đuổi và chém nhiều nhát vào người Trung T làm Trung T bị gục chết tại chỗ. Thấy Trung T bị đuổi thì chị N cầm theo một chiếc ghế gỗ đuổi theo S thì cũng bị S cầm mác chém một nhát vào mặt làm chị N bỏ chạy. Q và T đuổi đánh nhóm bạn của Trung T trong quán. Sau khi chém Trung T thì C và S tiếp tục dùng mác, ghế gỗ đập phá tài sản của quán cà phê KN, và xe máy của khách hàng trong quán. Theo kết quả giám định pháp y thì chị Huỳnh Ý N bị thương tích với tỷ lệ là 61%. Tổng tài sản bị thiệt hại theo kết quả của hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự mà bị cáo Bùi Lê Huy S hủy hoại là 10.026.400 đồng, bị cáo Lê Hoàng C hủy hoại là 4.455.000 đồng.
Với hành vi và hậu quả nêu trên, các bị cáo Lê Hoàng C, Bùi Lê Huy S, Nguyễn Phúc Q, Ngô Vũ Hoàng T bị tòa án tỉnh Khánh Hòa xét xử về tội “Giết người” theo khoản 1 Điều 93 BLHS, Lê Hoàng C còn bị xét xử về tội “Hủy hoại tài sản”, Bùi Lê Huy S còn bị xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” và “Hủy hoại tài sản” là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của Lê Hoàng C và kháng cáo của chị Huỳnh Ý N xin giảm nhẹ cho bị cáo C, Hội đồng xét xử xét thấy: Án sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng và xử bị cáo mức án 19 năm tù về tội “Giết Người’’ là thỏa đáng, tại cấp phúc thẩm bị cáo tích cực tác động gia đình bồi thường tiếp cho bị hại cụ thể: Bồi thường cho chị Huỳnh Ý N 35.000.000 đồng, bồi thường cho cháu Huỳnh Ngô Gia H1 do bà Ngô Thị Thúy H đại diện nhận15.000.000 đồng, bồi thường cho chị Huỳnh Thanh Nguyễn T 10.000.000 đồng và được đại diện bị hại là chị Huỳnh Ý N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, do đó cần chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo và đại diện bị hại là chị Huỳnh Ý N để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật mà tích cực cải tạo. Đơn kháng cáo xin giảm nhẹ của bị cáo C được chấp nhận, do vậy kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo C của chị Huỳnh Thanh Nguyễn T và bà Ngô Thị Thúy H là không có căn cứ để chấp nhận.
Xét kháng cáo của bị cáo Ngô Vũ Hoàng T và Nguyễn Phúc Q xin giảm nhẹ hình phạt và kháng cáo của chị Huỳnh Thanh Nguyễn T, bà Ngô Thị Thúy H xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Bùi Lê Huy S, Hội đồng xét xử xét thấy: Án sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo Ngô Vũ Hoàng T và Nguyễn Phúc Q được hưởng, cũng như vai trò đồng phạm của từng bị cáo trong vụ án và xử phạt các bị cáo Ngô Vũ Hoàng T 12 năm, Nguyễn Phúc Q 13 năm là phù hợp, không nặng. Bị cáo Q là người trực tiếp đi lấy mác và mã tấu phân phát cho đồng bọn, tại cấp phúc thẩm không có tình tiết giảm nhẹ nào mới, do vậy không có căn cứ để chấp nhận đơn kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt đối với các bị cáo như án sơ thẩm đã tuyên.
Đối với bị cáo Bùi Lê Huy S trong vụ án này bị cáo là người có vai trò đồng phạm tích cực nhất sau bị cáo Lê Hoàng C, do vậy chịu mức án cao hơn bị cáo Q và T là phù hợp, tuy nhiên so với mức án của bị cáo Lê Hoàng C thì mức án của bị cáo S phải thấp hơn, do vậy hội đồng xét xử sẽ xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, nên đơn kháng cáo của chị Huỳnh Thanh Nguyễn T và Ngô Thị Thúy H được chấp nhận.
Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị hội đồng xét xử không chấp nhận đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Ngô Vũ Hoàng T, Nguyễn Phúc Q và đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của chị Huỳnh Ý N cũng như đơn kháng cáo của bị cáo Lê Hoàng C, chấp nhận đơn kháng cáo của chị Huỳnh Thanh Nguyễn T,và Ngô Thị Thúy H tăng hình phạt đối với bị cáo Lê Hoàng C, và kháng cáo xin giảm nhẹ cho bị cáo Bùi Lê Huy S.
Án phí: Các bị cáo Nguyễn Phúc Q và Ngô Vũ Hoàng T phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự.
1. Chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Lê Hoàng C và của đại diện bị hại Huỳnh Thị Ý N. Và phần đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Bùi Lê Huy S của chị Ngô Thị Thúy H và Huỳnh Thanh Nguyễn T.
2. Không chấp nhận đơn kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Phúc Q, Ngô Vũ Hoàng T, và phần đơn kháng cáo của đại diện bị hại là chị Ngô Thị Thúy H và Huỳnh Thanh Nguyễn T về nội dung tăng hình phạt đối với bị cáo Lê Hoàng C.
Sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 16/2017/HSST ngày 18.5.2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 93; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Bùi Lê Huy S, Lê Hoàng C, Nguyễn Phúc Q, Ngô Vũ Hoàng T.
Áp dụng khoản 1 Điều 143; Điều 50 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Bùi Lê Huy S và Lê Hoàng C.
Áp dụng khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Bùi Lê Huy S.
Áp dụng Điều 584; 585; Điều 587; 590 và 591 của Bộ luật dân sự 2015. Áp dụng Nghị Quyết số 326 /2016/UBTVQH 14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Xử phạt bị cáo Lê Hoàng C 17 (mười bẩy) năm tù về tội “Giết người’’; 09 (chín) tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản’’. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Lê Hoàng C phải chấp hành hình phạt chung cho hai tội là 17 năm 09 tháng tù.Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10.10.2015.
- Xử phạt bị cáo Bùi Lê Huy S 18 (mười tám) năm tù về tội “Giết người” 07 (bảy) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”; 01 năm tù về tội “Hủy hoại tài sản”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả ba tội là 26 (hai mươi sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/10/2015.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Phúc Q 13 năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày 10/10/2015.
- Xử phạt bị cáo Ngô Vũ Hoàng T 12 (mười hai) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày 09/10/2015.
- Các bị cáo Nguyễn Phúc Q, Ngô Vũ Hoàng T, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo và kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - Công an tỉnh Khánh Hòa; - Trại tạm giam Công an tỉnh Khánh Hòa; - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa; - Bị cáo; Những người tham gia TT khác; - Lưu HSVA, P.HCTP, LT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Mai Xuân Thành |