- Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Trang chấp tài sản thừa kế"
- Tòa quyết gì? I. Không châp nhận yêu cầu kháng cáo của bi đơn bà Nguyễn Thi N và Quyết đinh kháng nghi số 11/QĐ-VKS-DS ngày 11/10/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện D. Giữ nguyên Bản án dân sự số 118/2023/DS-ST ngày 27/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện D.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 212/2024/DSPT Ngày: 17-4-2024 Về việc tranh châp quyền sư dung đât và yêu cầu di dời nhà. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tân.
Các thẩm phán:
Ông Huỳnh Văn Luật.
Bà Nguyễn Thi Huyền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thi Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức Thoại - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 12 và 17 tháng 4 năm 2024 tại tru sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xư phúc thẩm công khai vu án dân sự thu lý số: 269/2023/TLPT-DS ngày 03 tháng 12 năm 2023 về việc “tranh châp quyền sư dung đât và yêu cầu di dời nhà”.
Do Bản án dân sự số 118/2023/DSST ngày 27/9/2023, Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương bi kháng cáo.
Theo Quyết đinh đưa vu án ra xét xư số 113/2023/QĐXXPT-DS ngày 11 tháng 12 năm 2023, Quyết đinh hoãn phiên tòa số 50/QĐ-PT ngày 12/3/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Văn Đ, sinh năm 1955; đia chỉ: âp X, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương (ông Lê Văn Đ chết ngày 05/8/2021).
- Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Lê Văn Đ có các con gồm:
+ Bà Lê Thi Kim H, sinh năm 1979; có mặt.
+ Ông Lê Long H1, sinh năm 1981; có đơn xin vắng mặt.
Cùng đia chỉ: âp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người đại diện hợp pháp của bà Lê Thị Kim H: ông Phạm H2, sinh năm 1959; đia chỉ: khu A, thi trân H, huyện Đ, tỉnh Long An, là người đại diện theo ủy quyền (theo hợp đồng ủy quyền số 05642 ngày 25/9/2023).
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thi N, sinh năm 1963; đia chỉ: âp X, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Lê Thi Ngọc T, sinh năm 1984; đia chỉ: khu phố Đ, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.
2. Bà Lê Thi Bích T1, sinh năm 1985; đia chỉ: âp X, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương; có mặt.
3. Bà Lê Thi Nhựt M, sinh năm 1989; đia chỉ: âp X, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương; có mặt.
4. Bà Lê Thi Thanh T2, sinh năm 1991; đia chỉ: âp X, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương; có mặt.
5. Bà Lê Thi Cẩm T3, sinh năm 1994; đia chỉ: tổ I, khu phố B, thi trân L, huyện B, tỉnh Bình Dương; có mặt.
6. Ông Lê Thành N1, sinh năm 1997; đia chỉ: âp X, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương; có mặt.
7. Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đât đai huyện D; đia chỉ: khu phố D, thi trân D, huyện D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện theo pháp luật: ông Đinh Chí L – Chức vu: Giám đốc Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đât đai huyện D; vắng mặt, có đơn đề nghi giải quyết vắng mặt.
- Người làm chưng:
1. Ông Nguyễn Văn H3, sinh năm 1963; đia chỉ: âp L, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.
2. Ông Phạm Tung H4, sinh năm 1949; đia chỉ: âp X, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.
3. Ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1976; đia chỉ: âp L, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.
Người kháng cáo: Bi đơn bà Nguyễn Thi N.
Viện Kiểm sát kháng nghi: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện D.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên toà, người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn bà Lê Thị Kim H trình bày:
Theo đơn khởi kiện ngày 30/6/2020 cha bà Lê Thi Kim H là ông Lê Văn Đ yêu cầu bà Nguyễn Thi N trả lại phần đât có diện tích khoảng 1.584m2, thuộc thưa đât số 94, tờ bản đồ số 30, đât tọa lạc tại âp X, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương. Theo giây chứng nhận quyền sư dung đât được Ủy ban nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương câp cho hộ (ông, bà) Lê Thành T5 vào ngày 28/12/2001. Ngày 31/12/2020, ông Lê Văn Đ tiếp tuc yêu cầu khởi kiện bổ sung buộc bà N phải trả lại phần đât có diện tích 1.630,4m2, thuộc 01 phần của thưa đât 193 và thưa 194 và 01 phần của thưa đât 196, tờ bản đồ số 30, đât tọa lạc tại âp X, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương, theo giây chứng nhận quyền sư dung đât được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B câp cho bà Nguyễn Thi N vào ngày 28/10/2015. Nay ông Lê Văn Đ chết, bà Lê Thi Kim H là người kế thừa quyền, nghĩa vu tố tung của ông Lê Văn Đ tiếp tuc yêu cầu bà Nguyễn Thi N cùng với những người con của bà N trả lại phần đât có diện tích 1179,4m2, thuộc thưa 194, tờ bản đồ số 30 (nay thuộc 01 phần thưa đât số 1229, tờ bản đồ số 30), đât tọa lạc tại âp X, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương; tứ cận phần đât tranh châp như sau: hướng Đông giáp thưa đât 193; hướng Tây giáp thưa đât 196; hướng Nam giáp thưa đât 193; hướng Bắc giáp đường nhựa.
Bà Lê Thi Kim H xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với phần diện tích đât 276,2m2, thuộc thưa đât số 193, tờ bản đồ số 30, đât tọa lạc tại âp X, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương, theo giây chứng nhận quyền sư dung đât được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B câp cho bà Nguyễn Thi N vào ngày 28/10/2015 và phần đât có diện tích 174,8m2, thuộc một phần của thưa đât 196, tờ bản đồ số 30, đât tọa lạc tại âp X, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương theo giây chứng nhận quyền sư dung đât được Ủy ban nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương câp cho hộ (ông, bà) Lê Thi Đ1 vào ngày 28/12/2001.
Về nguồn gốc phần đât tranh châp: đât của ông nội bà Lê Thi Kim H tên Lê Văn H5 và bà nội Lê Thi N2. Đât tranh châp được ông H5, bà N2 khai phá vào năm 1976, có diện tích đât 16.396m2, thuộc thưa đât 193, 194, 195, 207, 253, 254, 398, 766, tờ bản đồ số 30 và 33, đât tọa lạc âp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương (nay là âp X, xã T, huyện D tỉnh Bình Dương). Sau khi khai phá phần diện tích đât trên ông, bà nội cùng những người con gồm: ông Lê Văn K (chết); bà Lê Thi L1 (hiện nay cư trú tại âp A, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh); ông Lê Văn G (chết); ông Lê Văn Đ (chết) và ông Lê Thành T5 canh tác và quản lý sư dung. Đến năm 1999 ông nội cho ông Lê Thành T5 đứng tên giây chứng nhận quyền sư dung đât với tổng diện tích 16.396m2, thuộc thưa đât 193, 194, 195, 207, 253, 254, 398, 766, tờ bản đồ số 30 và 33. Tổng diện tích đât trên ông nội cho ông T5, bà L1, ông G, ông K và ông Lê Văn Đ. Khi ông nội cho đât thì tât cả các anh em trong gia đình ông Lê Văn Đ đi làm ăn xa nên để đât lại cho ông T5 quản lý, sư dung. Đến năm 2005, ông K có quay về xin lại phần đât của cha mẹ cho để cât nhà nhưng ông T5 và bà N không cho. Đến khoảng năm 1994-1995 thì ông Lê Văn Đ làm ăn xa quay về và cât nhà tạm trên thưa đât 194 và năm 2000 thì xây dựng căn nhà tường trên đât cho đến nay. Trên một phần thưa đât 193 và 194 được Nhà nước câp cho bà Lê Thi N2 và ông Lê Văn G căn nhà tình nghĩa vào năm nào bà H không nhớ. Sau khi bà N2 chết thì ông G vẫn tiếp tuc ở trên căn nhà tình nghĩa đến khi chết. Ông T5 và bà N đập bỏ căn nhà tình nghĩa để xây dựng nhà khác.
Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, bà Lê Thi Kim H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu bà N trả lại phần đât có diện tích 1.179,4m2, thuộc thưa 194, tờ bản đồ số 30 (nay thuộc 01 phần thưa đât số 1229, tờ bản đồ số 30), đât tọa lạc tại âp X, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương; tứ cận phần đât tranh châp như sau: Hướng Đông giáp thưa đât 193; hướng Tây giáp thưa đât 196; hướng Nam giáp thưa đât 193; hướng Bắc giáp đường nhựa.
Đối với tài sản trên đât gồm: nếu Tòa án châp nhận yêu cầu khởi kiện thì 04 (bốn) cái mộ trên phần đât vẫn giữ nguyên không yêu cầu di dời.
Đối với tre mạnh tông, cây mít của ông Lê Văn Đ trồng nếu Tòa châp nhận yêu cầu khởi kiện thì bà Lê Thi Kim H vẫn tiếp tuc sư dung.
Đối với cây lồng mứt tự lên trên thưa đât tranh châp nếu Tòa án châp nhận yêu cầu khởi kiện thì bà Lê Thi Kim H vẫn tiếp tuc sư dung.
Đối với tầm vông ông Lê Văn H5 trồng trên thưa đât tranh châp nếu Tòa án châp nhận yêu cầu khởi kiện thì bà Lê Thi Kim H vẫn tiếp tuc sư dung.
Đối với cây mãng cầu trên thưa đât tranh châp nếu Tòa án châp nhận yêu cầu khởi kiện thì bà Lê Thi Kim H sẽ thanh toán giá tri cây lại cho bà N.
Bà Lê Thi Kim H thống nhât với kết quả đo đạc theo Mảnh trích luc đia chính có đo đạc chỉnh lý (tranh châp) số 738-2020 ngày 18/8/2020 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đât đai huyện D phần đât tranh châp có diện tích 1.179,4m2 và thống nhât kết quả đinh giá theo biên bản đinh giá đối với giá tri đât và tài sản tranh châp ngày 24/02/2022 của Toà án nhân dân huyện Dầu Tiếng, bà Lê Thi Kim H yêu cầu lây kết quả này để giải quyết vu án.
* Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông Lê Long H1 trình bày: Thống nhât theo lời trình bày của bà Lê Thi Kim H.
* Bị đơn bà Nguyễn Thị N trình bày: Trước yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn Đ (chết 2021), nay người kế thừa quyền, nghĩa vu tố tung của ông Lê Văn Đ yêu cầu bà trả lại phần đât có diện tích 1179,4m2, thuộc thưa 194, tờ bản đồ số 30 (nay thuộc 01 phần thưa đât số 1229, tờ bản đồ số 30), đât tọa lạc tại âp X, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương; tứ cận phần đât tranh châp như sau: hướng Đông giáp thưa đât 193; hướng Tây giáp thưa đât 196; hướng Nam giáp thưa đât 193; hướng Bắc giáp đường nhựa, bà N không đồng ý. Bởi vì, phần đât tranh châp là do chồng bà ông Lê Thành T5 tự khai phá vào năm 1976, với tổng diện tích 16.396m2, thuộc thưa đât 193, 194, 195, 207, 253, 254, 398, 766, tờ bản đồ số 30 và 33, đât tọa lạc âp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương (nay là âp X, xã T, huyện D tỉnh Bình Dương). Sau khi khai phá bà và chồng quản lý và sư dung đến năm 2001 thì chồng bà kê khai đăng ký được Ủy ban nhân dân huyện D câp giây chứng nhận cho hộ (ông, bà) Lê Thành T5. Bà H cho rằng phần đât tranh châp do ông Lê Văn H5 và bà Lê Thi N2 khai phá là không đúng. Bà N xác đinh phần diện tích tranh châp trên là do chồng bà tự khai phá, khi bà về sống với ông T5 thì cha mẹ chồng vẫn sống chung nhà không có anh chi em nào khác.
Ông Lê Văn Đ đã được ông Lê Văn H5 và bà Lê Thi N2 cho đât hay không thì bà không biết. Khi bà về sống với ông T5 thì ông Lê Văn Đ có đât cât nhà giáp thưa đât 194 hiện đang tranh châp. Sau đó ông Lê Văn Đ bán lại cho bà Lê Thi Đ1 nên không có đât cât nhà để ở. Năm 2006, ông Lê Văn Đ có qua xin vợ chồng bà cât nhà ở tạm trên thưa đât 194 để ở khi nào chết thì trả lại đât nên vợ chồng bà đồng ý cho ở nhờ trên đât không có làm giây tờ gì. Việc cho ông Lê Văn Đ xây nhà tường ở nhờ trên đât là do bà N không am hiểu pháp luật nên mới cho xây dựng nhà tường kiên cố như vậy.
Vào năm 1995 Nhà nước có tặng cho mẹ chồng là bà Lê Thi N2 01 căn nhà tình nghĩa được xây dựng trên thưa đât 194. Căn nhà tình nghĩa mẹ chồng bà ở được khoảng 03 tháng thì chết và anh chồng tên Lê Văn G về ở. Năm 2010, ông G chết nên bà N có báo ông M1 làm trưởng âp để phá bỏ căn nhà tình nghĩa để xây dựng lại nhà khác và được chính quyền đia phương thống nhât.
Nay người kế thừa quyền, nghĩa vu tố tung của ông Lê Văn Đ yêu cầu trả lại phần đât có diện tích 1.179,4m2, thuộc thưa 194, tờ bản đồ số 30 (nay thuộc 01 phần thưa đât số 1229, tờ bản đồ số 30) bà N không đồng ý. Ngày 14/11/2022 bà N có làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà H và ông H1 là người kế thừa quyền, nghĩa vu tố tung của ông Lê Văn Đ phải di dời căn nhà tường ra khỏi thưa đât 194 để trả lại đât. Trường hợp căn nhà không di dời được bà đồng ý thanh toán giá tri căn nhà trên lại cho con ông Lê Văn Đ.
Đối với tài sản trên đât bà N yêu cầu Tòa án xem xét thẩm đinh lại.
Bà N thống nhât với kết quả đo đạc theo mảnh trích luc đia chính có đo đạc chỉnh lý (tranh châp) số 738-2020 ngày 18/8/2020 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đât đai huyện D và kết quả đinh giá theo biên bản đinh giá tri đât và tài sản tranh châp ngày 24/02/2022 của Toà án nhân dân huyện Dầu Tiếng và yêu cầu lây kết quả này để làm cơ sở giải quyết vu án.
* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà T, bà T1, bà M, bà T2, bà T3 và ông N1 trình bày: Tât cả nghe rõ lời trình bày của mẹ là bà Nguyễn Thi N và thống nhât với ý kiến và yêu cầu của bà N, không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.
* Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện D ông Đinh Chí L có trình bày:
Tại Công văn số 1314 ngày 05/7/2023 Chi nhánh văn phòng Đăng ký đât đai huyện D nhận được Văn bản số: 2468/STNMT-VPĐKĐĐ ngày 22/6/2023 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B về việc cung câp tài liệu, chứng cứ liên quan đến vu án dân sự giữa nguyên đơn ông Lê Văn Đ với bi đơn bà Nguyễn Thi N theo Quyết đinh số 111/QĐ-DS ngày 13/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện D. Qua kiểm tra hồ sơ đia chính, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đât đai huyện D trả lời cho Tòa án nhân dân huyện D, như sau:
1. Giây chứng nhận quyền sư dung đât, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đât số phát hành BV 233057, số vào sổ CS 00140 ngày 28/10/2015 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B câp cho bà Nguyễn Thi N được câp đúng theo quy đinh tại Điều 79 Nghi đinh 43 ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy đinh chi tiết thi hành một số điều của Luật Đât đai; Điều 20, 27 Quyết đinh số 13/QĐ - UBND ngày 14/4/2015 của UBND tỉnh B. Giây chứng nhận quyền sư dung đât, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đât số phát hành BV 233057, số vào sổ CS 00140 ngày 28/10/2015 được câp theo mảnh trích luc đia chính (có đo đạc chỉnh lý) số 86-2015 ngày 30/3/2015 của Văn phòng Đăng ký đât đai huyện D (nay là Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đât đai huyện D) và có thể hiện việc ký liên ranh của các chủ sư dung đât liền kề.
2. Tổng diện tích 5.648m2 (gồm các thưa 193, 194, 195 sau khi biến động) theo Giây chứng nhận quyền sư dung đât số 00368 ngày 28/12/2001 chênh lệch 36m2 so với diện tích 5.684m2 theo Giây chứng nhận quyền sư dung đât, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đât số CS00140 ngày 28/10/2015; nguyên nhân: do trước đây theo Giây chứng nhận quyền sư dung đât số 00368 ngày 28/12/2001 được câp theo bản đồ đia chính chính quy lập theo công nghệ ảnh hàng không nên có sự chênh lệch về diện tích.
3. Giây chứng nhận quyền sư dung đât, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đât số phát hành BV 233057, số vào sổ CS 00140 ngày 28/10/2015 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B câp cho bà Nguyễn Thi N được câp đúng theo quy đinh. Đề nghi Tòa án nhân dân huyện D căn cứ quy đinh của pháp luật để giải quyết yêu cầu của người khởi kiện về việc hủy giây chứng nhận quyền sư dung đât.
* Người làm chưng ông Nguyễn Văn H3 trình bày: Phần đât tranh châp giữa ông Lê Văn Đ và bà Nguyễn Thi N trước đây ông Lê Văn Đ có cât căn nhà tạm vào năm nào thì ông không nhớ. Sau khi ông Lê Văn Đ và vợ không còn sống chung nữa thì ông Lê Văn Đ mới xây dựng căn nhà tường trên thưa đât 194. Nguồn gốc đât tranh châp là của cha mẹ của ông Lê Văn Đ cùng với những người con khai phá. Tại phần đât tranh châp trước đây có 01 phần xây dựng căn nhà tình nghĩa cho ông Lê Văn G. Sau khi ông G chết thì bà N đập bỏ căn nhà tình nghĩa.
* Người làm chưng ông Phạm Tung H4 trình bày: Phần đât tranh châp giữa ông Lê Văn Đ và bà Nguyễn Thi N có nguồn gốc đât là của ông Lê Văn H5 và bà Lê Thi N2. Phần đât tranh châp là do ông H5, bà N2 khai phá cùng với các con. Sau khi khai phá thì cha mẹ cho mỗi người con 01 phần đât. Phần đât ông Lê Văn Đ được ông H5 cho tại thưa 194. Sau đó ông Lê Văn Đ cât 01 căn nhà ở tạm và xây mới căn nhà tường trên phần đât tranh châp. Phần đât trên hiện nay ai đứng tên giây chứng nhận quyền sư dung đât thì ông không biết.
Bản án số 118/2023/DS - ST ngày 27/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện D đã quyết đinh:
1. Châp nhận yêu cầu khởi kiện của người kế thừa quyền, nghĩa vu của nguyên đơn đối với bi đơn bà Nguyễn Thi N về việc “Tranh châp quyền sư dung đât”.
- Buộc bà Nguyễn Thi N trả lại cho người kế thừa quyền, nghĩa vu của nguyên đơn phần đât có diện tích 1179,4m2 thuộc thưa 194 tờ bản đồ số 30 (nay thuộc 01 phần thưa đât số 1229, tờ bản đồ số 30). (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
- 04 cái mã bà Lê Thi Kim H và ông Lê Đông H6 không yêu cầu bà N di dời nên Hội đồng xét xư ghi nhận.
- Giao cho bà Lê Thi Kim H và ông Lê Đông H6 tiếp tuc sư dung tre mạnh tông, cây mít, cây lồng mức và tầm vong trên phần đât tranh châp chi H và anh nhận.
- Buộc bà Lê Thi Kim H và ông Lê Đông H6 thanh toán lại cho bà N giá tri tiền cây mãng cầu là 182.000 đồng (một trăm tám mươi hai ngàn đồng).
2. Đình chỉ 01 phần yêu cầu khởi kiện của người kế thừa quyền, nghĩa vu của nguyên đơn đối với phần đât có diện tích 276,2m2.
3. Không châp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thi N đối với người kế thừa quyền, nghĩa vu của nguyên đơn về việc yêu cầu di dời căn nhà.
4. Kiến nghi cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền thu hồi Giây chứng nhận quyền sư dung đât số CS00140 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B câp ngày 28/10/2015 cho bà Nguyễn Thi N trong đó có thưa đât số 194 tờ bản đồ số 30 (nay thuộc 01 phần thưa đât số 1229, tờ bản đồ số 30) tọa lạc tại âp X, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương để câp lại cho người kế thừa quyền, nghĩa vu của nguyên đơn.
5. Về chi phí tố tung: Về chi phí đo đạc, đinh giá: Bi đơn bà Nguyễn Thi N phải chiu toàn bộ chi phí đo đạc, đinh giá là 3.294.000 đồng (ba triệu hai trăm chín mươi bốn ngàn đồng). Để trả lại cho người kế thừa quyền, nghĩa vu của nguyên đơn.
6. Án phí dân sự sơ thẩm: bà Nguyễn Thi N là người cao tuổi nên được miễn tiền tạm ứng án phí lệ phí Tòa án theo quy đinh tại khoản 1 Điều 12 Nghi quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vu Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sư dung án phí và lệ phí Tòa án. Hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thi N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số 0011118 ngày 15 tháng 11 năm 2022 của Chi cuc Thi hành án dân sự huyện D.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.
Ngày 28/9/2023, bi đơn là bà Nguyễn Thi N có đơn kháng cáo toàn bộ quyết đinh của bản án sơ thẩm.
Ngày 11/10/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện D có Quyết đinh kháng nghi số 11/QĐ-VKS-DS kháng nghi toàn bộ Bản án dân sự số 118/2023/DS-ST ngày 27/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện D. Đề nghi Hội đồng xét xư sưa bản án sơ thẩm không châp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và châp nhận yêu cầu phản tố của bi đơn
Tại phiên tòa phúc thẩm, bi đơn bà Nguyễn Thi N vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghi sưa án sơ thẩm theo hướng: không châp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, châp nhận yêu cầu phản tố của bi đơn. Đồng thời bi đơn cung câp chứng cứ mới là giây photo chuyển nhượng đât của ông Đ cho bà Lê Thi Đ1, giây chuyển nhượng nhà và đât ruộng của bà Lê Thi L2 cho ông Lê Thành T5, giây chuyển nhượng đât ruộng từ bà Nguyễn Thi T6 cho ông Lê Thành T5.
* Ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân theo tố tụng và việc giải quyết vụ án:
- Về tố tung, từ khi thu lý vu án đến phiên tòa sơ thẩm Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng quy đinh pháp luật về người tiến hành tố tung. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vu tố tung theo quy đinh pháp luật.
- Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xư đã thực hiện đầy đủ thủ tuc xét xư theo đúng chức năng, nhiệm vu, quyền hạn của Hội đồng xét xư theo quy đinh pháp luật. Viện Kiểm sát không kiến nghi, khắc phuc gì thêm.
- Về quan điểm giải quyết vu án: Bản án sơ thẩm ghi sai tên người kế thừa quyền, nghĩa vu tố tung của nguyên đơn tên “Lê Long H1” thành “Lê Đông H6”, không đưa bà Lê Thi L1 (con ông Lê Văn H5 và bà Lê Thi N2) là hàng thừa kế thứ nhât của ông H5, bà N2 tham gia tố tung với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vu liên quan là vi phạm nghiêm trọng tố tung. Đề nghi Hội đồng xét xư châp nhận yêu cầu kháng cáo của bi đơn bà Nguyễn Thi N và hủy án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vu án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tung tại phiên tòa, Hội đồng xét xư nhận đinh:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tung: đơn kháng cáo của nguyên đơn làm và nộp trong hạn là phù hợp nên châp nhận. Kháng nghi của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện D còn trong thời hạn quy đinh của pháp luật là phù hợp.
Về nội dung:
Xét yêu cầu kháng cáo của bi đơn bà Nguyễn Thi N thây rằng:
Căn nhà câp 4, diện tích 58m2 của ông Lê Văn Đ nằm trong phần đât có diện tích 1.179,4m2 thuộc thưa 194 tờ bản đồ số 30 (nay thuộc 01 phần thưa đât số 1229, tờ bản đồ số 30) toạ lạc tại âp X, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương. Năm 1990, ông Lê Văn Đ bắt đầu việc sư dung xây nhà tạm trên phần đât tranh châp cho đến nay. Năm 2001 ông Lê Thành T5 kê khai đăng ký để câp giây chứng nhận quyền sư dung đât thì kê khai luôn phần đât ông Lê Văn Đ đang ở và được câp giây chứng nhận quyền sư dung đât ngày 28/12/2001 cho hộ ông T5 là không đúng quy đinh của pháp luật. Năm 2014 thì ông T5 chết. Năm 2015 bà N cùng với những người con của ông T5 làm thủ tuc thừa kế tài sản. Thời điểm bà N làm thủ tuc thừa kế, ông Lê Văn Đ bi tai nạn giao thông nên không biết việc đo đạc lại thưa đât trên. Hộ gia đình giáp ranh là bà Lê Thi Đ1 không có ký vào bản mô tả (bà N cũng thừa nhận bà Đ1 không ký tên vào bản mô tả).
Bi đơn bà Nguyễn Thi N thừa nhận ông Lê Văn Đ đã xây dựng nhà ở tạm trên phần đât tranh châp 1.179,4m2 từ năm 1994. Đến năm 2006, ông Đ xây dựng lại nhà tường kiên cố và sống từ năm 1994 cho đến nay. Kết quả thẩm đinh thực tế cũng như kết quả xác minh người làm chứng đều xác đinh ông Đ là người sư dung thực tế đối với phần đât tranh châp từ năm 1994 cho đến nay. Năm 1995, Nhà nước có tặng cho bà Lê Thi N2 (mẹ ông Đ) một căn nhà tình nghĩa được xây dựng trên thưa đât 194 (thưa đât tranh châp). Căn nhà tình nghĩa bà N2 ở được khoảng 03 tháng thì chết nên bà N phá bỏ căn nhà tình nghĩa để xây dựng lại nhà khác và được chính quyền đia phương thống nhât. Do vậy, có căn cứ xác đinh thưa đât đang tranh châp (thưa 194) có nguồn gốc của cha, mẹ ông Lê Văn Đ, Lê Văn T7 mà không phải của ông T7 khai phá rồi được câp quyền sư dung đât.
Người làm chứng Lê Thi L1 và người liên quan bà Lê Thi Đ1 cũng xác đinh nguồn gốc phần đât tranh châp là của ông Lê Văn H5 và bà Lê Thi N2 (cha, mẹ ông Lê Văn Đ, ông Lê Văn T7). Năm 1995 bà N2 chết và năm 2001 ông H5 chết. Sau đó, ông T7 (chồng bà N) tự ý đi đăng ký, kê khai và được Ủy ban nhân dân huyện D câp giây chứng nhận quyền sư dung đât. Quá trình sư dung đât từ năm 1990, ông Lê Văn Đ bắt đầu việc sư dung phần đât có tranh châp và đồng thời và xây dựng nhà ở trên phần đât có tranh châp cho đến nay.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Nguyễn Thi N xuât trình các giây tờ mua bán đât nhưng không thể hiện vi trí, số thưa đât nên không có căn cứ xác đinh ông Lê Thành T5 nhận chuyển nhượng thưa đât nào và vi trí ở đâu trong diện tích đât tranh châp.
Xét kháng nghi của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện D đối với Bản án dân sự số 118/2023/DS-ST ngày 27/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện D thây rằng:
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tại phiên toà phúc thẩm về thủ tuc là phù hợp quy đinh pháp luật.
Về nội dung giải quyết vu án: Bản án sơ thẩm có sai chữ lót tên của người kế thừa quyền, nghĩa vu tố tung của nguyên đơn tên “ông Lê Long H1” thành “Lê Đông H6 nhưng đây không phải là vi phạm nghiêm trọng tố tung. Việc không đưa bà Lê Thi L1 (con ông Lê Văn H5, bà Lê Thi N2) là hàng thừa kế thứ nhât của ông H5, bà N2 tham gia tố tung với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vu liên quan là không cần thiết vì đây không phải tranh châp thừa kế của ông Lê Văn H5 nên Viện Kiểm sát đề nghi Hội đồng xét xư châp nhận yêu cầu kháng cáo của bi đơn bà Nguyễn Thi N và hủy án sơ thẩm do vi phạm nghiêm trọng tố tung là chưa phù hợp quy đinh pháp luật.
Từ những nhận xét trên, xét thây không có căn cứ để châp nhận yêu cầu kháng cáo của bi đơn và kháng nghi của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện D.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thi N là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí phúc thẩm ngày 28/9/2023 nên Hội đồng xét xư châp nhận miễn tiền án phí cho bà N theo quy đinh tại khoản 1 Điều 12 Nghi quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vu Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sư dung án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố Tung dân sự;
Căn cứ Nghi quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vu Quốc hội quy đinh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sư dung án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xư:
I. Không châp nhận yêu cầu kháng cáo của bi đơn bà Nguyễn Thi N và Quyết đinh kháng nghi số 11/QĐ-VKS-DS ngày 11/10/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện D. Giữ nguyên Bản án dân sự số 118/2023/DS-ST ngày 27/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện D.
1. Châp nhận yêu cầu khởi kiện của người kế thừa quyền, nghĩa vu tố tung của nguyên đơn đối với bi đơn bà Nguyễn Thi N về việc “Tranh châp quyền sư dung đât”.
- Buộc bà Nguyễn Thi N trả lại cho người kế thừa quyền, nghĩa vu tố tung của nguyên đơn phần đât có diện tích 1.179,4m2 thuộc thưa 194 tờ bản đồ số 30 (nay thuộc 01 phần thưa đât số 1229, tờ bản đồ số 30); (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
- 04 cái mả bà Lê Thi Kim H và ông Lê Long H1 không yêu cầu bà N di dời nên Hội đồng xét xư ghi nhận.
- Giao cho bà Lê Thi Kim H và ông Lê Long H1 tiếp tuc sư dung tre mạnh tông, cây mít, cây lồng mứt và tầm vông trên phần đât tranh châp.
- Buộc bà Lê Thi Kim H và ông Lê Long H1 thanh toán lại cho bà N giá tri tiền cây mãng cầu là 182.000 đồng (một trăm tám mươi hai nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết đinh thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tât cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chiu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suât quy đinh tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của người kế thừa quyền, nghĩa vu của nguyên đơn đối với phần đât có diện tích 276,2m2.
3. Không châp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thi N đối với người kế thừa quyền, nghĩa vu tố tung của nguyên đơn về việc yêu cầu di dời căn nhà.
4. Kiến nghi cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền thu hồi Giây chứng nhận quyền sư dung đât số CS00140 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B câp ngày 28/10/2015 cho bà Nguyễn Thi N trong đó có thưa đât số 194 tờ bản đồ số 30 (nay thuộc 01 phần thưa đât số 1229, tờ bản đồ số 30) tọa lạc tại âp X, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương để câp lại cho người kế thừa quyền, nghĩa vu tố tung của nguyên đơn.
5. Về chi phí tố tung: Về chi phí đo đạc, đinh giá bi đơn bà Nguyễn Thi N phải chiu toàn bộ chi phí đo đạc, đinh giá là 3.294.000 đồng (ba triệu hai trăm chín mươi bốn nghìn đồng) để trả lại cho người kế thừa quyền, nghĩa vu tố tung của nguyên đơn.
6. Án phí dân sự sơ thẩm: bà Nguyễn Thi N là người cao tuổi nên được miễn tiền tạm ứng án phí lệ phí Tòa án theo quy đinh tại khoản 1 Điều 12 Nghi quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vu Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sư dung án phí và lệ phí Tòa án. Hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thi N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số 0011118 ngày 15 tháng 11 năm 2022 của Chi cuc Thi hành án dân sự huyện D.
II. Án phí dân sự phúc thẩm: bà Nguyễn Thi N không phải chiu.
III. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Các Thẩm phán Thành viên
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Huyền Huỳnh Văn Luật Nguyễn Minh T8
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Dương; - Tòa án nhân huyện D; - Chi cuc Thi hành án dân sự huyện D; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ vu án, Tòa DS, HCTP. CÁC THẨM PHÁN Nguyễn Thị H7 - H | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Tấn THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh T8 |