vanban.org

Bản án 212/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Đức Thịnh - Lê Thị Nga"
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÙ MỸ
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 212 /2023/HNGĐ-ST
Ngày: 27-6-2023
V/v : “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Truyền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đình Văn và ông Lê Tiến Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Đức Chính là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ.

- Đại diê ̣n Viê ̣n kiểm sá t nhân dân huyê ̣n Phù Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ xét xử sơ thẩm công khai vu ̣ án thu ̣ lý số 323/2022/TLST-HNGĐ ngày 01/11/2023 về “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết đi ̣nh đưa vu ̣ án ra xét xử số: 890/2023/QĐXX-ST ngày 05 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Phạm Đức T, sinh năm 1998

Địa chỉ: Thôn BT, xã MQ, huyện PM, tỉnh BĐ.

- Bị đơn: Chị Lê Thị N, sinh năm 2000

Địa chỉ: Thôn TĐ, xã MT, huyện PM, tỉnh BĐ.

(Nguyên đơn vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 16/3/2022 và các biên bản làm việc tiếp theo, nguyên đơn anh Phạm Đức T trình bày:

- Về hôn nhân: Anh và chị Lê Thị N tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Quang, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định vào ngày 05/11/2018. Trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, cuộc sống không hạnh phúc. Vợ chồng đã ly thân, phần ai nấy sống, không còn quan tâm gì đến nhau. Nay Anh thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể chung sống với nhau được nên Anh yêu cầu Toà án giải quyết cho Anh được ly hôn với chị Lê Thị N.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Phạm Phúc H, sinh ngày 20/8/2018. Hiện nay con chung đang ở với Anh. Khi ly hôn, Anh yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn chị Lê Thị N biết được Toà án đang thụ lý, giải quyết vụ kiện ly hôn của vợ chồng; được Tòa án tiến hành cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng liên quan đến vụ án, nhưng chị Lê Thị N lẫn tránh khai báo, không có văn bản ý kiến về việc Tòa án thụ lý vụ kiện gửi đến Tòa án; cũng không đến Tòa án để trình bày ý kiến và tại phiên tòa chị Lê Thị N vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

* Đại diện viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, tòa án đã xác định đúng thẩm quyền, đúng quan hệ tranh chấp, xác định đúng tư cách của những người tham gia tố tụng, tiến hành thu thập chứng cứ đúng qui định của pháp luật. Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục tại phiên tòa, đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các đương sự.

Quan điểm về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho anh Phạm Đức T được ly hôn chị Lê Thị N; về con chung: Giao con chung cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của anh T không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung: Không xét; về án phí: Anh T phải chịu theo quy định của luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ nhận định:

Về tố tụng: Anh Phạm Đức T có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với chị Lê Thị N. Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Lê Thị N có địa chỉ thường trú tại thôn TĐ, xã MT, huyện PM, tỉnh BĐ nên đây là vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định theo quy định tại các Điều 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng chị Lê Thị N vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị N theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; anh Phạm Đức T vắng mặt tại phiên toà nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

- Về hôn nhân: Anh Phạm Đức T và chị Lê Thị N tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Quang, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định vào ngày 05/11/2018 là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Trong quá trình chung sống vợ chồng không hạnh phúc. Vợ chồng đã ly thân, phần ai nấy sống, không còn quan tâm gì nhau. Nay anh T thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể chung sống với nhau được nên anh T yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn với chị Lê Thị N.

Trong quá trinh giải quyết vu ̣ án cũng như tại phiên toà hôm nay, chị Lê

̀ Thị N cố tinh lẫn tránh, không cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi

̀ ích hợp pháp của mình, chứ ng tỏ chị N không còn tha thiết vớ i cuô ̣c hôn nhân này, không có thiê ̣n chi hàn gắn tinh cảm vợ chồng. Hội đồng xét xử thấy rằng

́

̀

mâu thuẫn giữa anh T và chị N là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; nếu có duy trì, bảo vệ hạnh phúc của anh T và chị N chắc chắn không mang lại kết quả. Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận cho anh Phạm Đức T được ly hôn chị Lê Thị N.

- Về nuôi con: Anh T và chị N có 01con chung là Phạm Phúc H, sinh ngày 20/8/2018. Hiện nay cháu H đang do anh T trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi ly hôn, anh T yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu chị Nga cấp dưỡng nuôi con. Thấy rằng, hiện nay cháu H do anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, Hội đồng xét xử giao cháu Phạm Phúc H, sinh ngày 20/8/2018 cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Ghi nhận sự tự nguyện của anh T không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con.

- Về chia tài sản: Anh Phạm Đức T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Anh Phạm Đức Thịnh phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Anh Phạm Đức T.

1. Về hôn nhân: Anh Phạm Đức T được ly hôn chị Lê Thị N.

2. Về nuôi con: Giao con chung tên Phạm Phúc H, sinh ngày 20/8/2018 cho anh Phạm Đức T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Lê Thị N không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau ly hôn chị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không được ai cản trở, nhưng chị N không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con của anh T. Khi cần thiết anh T, chị N có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về chia tài sản: Hội đồng xét xử không xét.

4. Về án phí: Anh Phạm Đức T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền ta ̣m ứng án phí 300.000 đồng anh T đa nô ̣̃ p theo Biên lai thu số 0008804 ngày 01/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ