vanban.org

Bản án 212/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 17/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ vào khoản 1 Điều 133; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Lê Nam Trí Q phạm vào tội “Đe dọa giết người”. Xử phạt bị cáo Lê Nam Trí Q 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/6/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đe dọa giết người - phạm tội đe dọa giết người (điều 133 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ vào khoản 1 Điều 133; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH TÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 212/2022/HS-ST
Ngày: 17/11/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Vũ Thanh Phương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vương Tấn Độ;

Bà Bùi Diệu Huệ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Cương - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Mã Văn Thuân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 257/2022/HSST ngày 05/10/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 353/2022/QĐXXST-HS ngày 01/11/2022 đối với bị cáo:

Lê Nam Trí Q; Sinh năm: 19** tại: BR-VT; Hộ khẩu thường trú: Thôn SX3, xã LL, huyện CĐ, tỉnh BR-VT; Chỗ ở: 298/1/14A Liên Khu X, phường BHH B, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ và tên cha: Lê Kim N (sinh năm 19**); Họ và tên mẹ: Lê Thị B, sinh năm: 19**; Vợ: Đặng Thảo T, sinh năm 19**; Con: Có 02 con, lớn nhất sinh năm 20**, nhỏ nhất sinh năm 20**.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/6/2022 (Bị cáo có mặt);

- Những người tham gia tố tụng:

Bị hại: Chị Đặng Thảo T, sinh năm 1994; Địa chỉ: 298/1/14A Liên Khu X, phường BHH B, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Đặng Hữu T, sinh năm 1959 và bà Trần Thị H, sinh năm 1966; Cùng địa chỉ: số 33/3, Đường số X, phường BHH A, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Nam Trí Q là chồng của chị Đặng Thảo T. Do mâu thuẫn trong cuộc sống gia đình nên ngày 04/6/2022, chị T về nhà cha, mẹ ruột của chị T tại địa chỉ 33/3 Đường số 4, phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân làm việc và ở tại đây.

Ngày 08/6/2022, Qnhắn tin qua mạng xã hội Facebook yêu cầu chị T về nhà nhưng chị T không về vì lý do bận làm việc nên Q nhắn tin đe dọa chị T: “Nếu không về tao mua xăng đốt cho biết”. Khoảng 22 giờ 10 phút cùng ngày, Q điều khiển xe mô tô biển số 59N1-924.79 đến nhà cha, mẹ ruột của chị T yêu cầu chị T về nhà nhưng chị T không về nên Q điều khiển xe đến nhà không số kế số 4 Đường số 4, khu phố 3, phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân mua một lít xăng được đựng trong chai nhựa màu trắng với giá 36.000 đồng và điều khiển xe quay lại gia đình chị T. Khi đến địa chỉ trên, Q dừng xe trước cửa nhà và trên tay phải cầm bình xăng đi vào trong phòng khách tạt hướng từ dưới lên làm trúng xăng vào người của chị T, ông Đặng Hữu T (cha ruột chị T) và bà Trần Thị H (mẹ ruột chị T), thấy vậy ông T, bà H cùng với chị T can ngăn Q và đẩy Q ra bên ngoài. Lúc này, Q dùng tay phải lấy trong túi quần bên phải phía trước một bật lửa cầm ở tay phải và quẹt hai cái hướng về người chị T. Do người của chị T bị xăng Q tạt trúng nên chị T bỏ chạy vào trong nhà. Ông T và bà H tiếp tục can ngăn yêu cầu Q bỏ qua. Q lên xe điều khiển đi đến đầu Đường số 4, phường Bình Hưng Hòa A tiếp tục mua thêm 01 lít xăng và điều khiển xe quay trở lại nhà của ông T, bà H. Bà H phát hiện Qd ựng xe trước cửa nhà nên bà H đã mở ra và can ngăn, giật lại được chai xăng trên tay của Q và khuyên ngăn Q bỏ qua, Q tiếp tục sử dụng bật lửa đe dọa người nhà, sau đó điều khiển xe bỏ đi. Sau khi sự việc xảy ra, ông Thiện đến trụ sở Công an phường Bình Hưng Hòa A trình báo sự việc lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Bình Tân để xử lý theo thẩm quyền.

- Vật chứng thu giữ, tạm giữ của vụ án:

+ 01 bật lửa màu đỏ hình trụ kích thước 10x2,5cm.

+ 01 bình nhựa màu trắng có kích thước 23x9cm không có nắp đậy.

+ 01 chai nhựa trong suốt có kích thước 81x10cm có nắp đậy màu trắng bên trong có chứa một phần chất lỏng màu vàng.

+ 01 tấm vải cũ đã qua sử dụng có kích thước 1,34x1,21x80cm.

+ 01 xe mô tô biển số 59N1-924.79 là phương tiện bị can Lê Nam Trí Q sử dụng phục vụ cho việc phạm tội. Qua xác minh xe trên do ông Đặng Hữu T (cha vợ bị can Q) đứng tên chủ sở hữu và cho con ruột là Đặng Thảo T (vợ bị can Q) mượn chở vải nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe trên cho ông T.

+ 01 USB bên trong có chứa 03 đoạn video ghi lại diễn biến vụ án và 02 đĩa ghi âm, ghi hình được lưu kèm hồ sơ vụ án.

- Tại Kết luận giám định số: 3543/KL-KTHS ngày 23/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 01 bình nhựa màu trắng có kích thước 23 x 9cm không có nắp đậy, 01 chai nhựa trong suốt có kích thước 81x10cm có nắp đậy màu trắng bên trong có chứa một phần chất lỏng màu vàng và 01 tấm vải cũ đã qua sử dụng có kích thước 1,34 x 1,21 x 80cm tìm thấy thành phần xăng.

- Về trách nhiệm dân sự: Chị Đặng Thảo T không có yêu cầu bồi thường gì và xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị can Lê Nam Trí Q.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Bình Tân, Lê Nam Trí Q đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Q khai mục đích dùng xăng tạt vào người chị T là để đe dọa yêu cầu chị T về nhà, không có ý thức tước đoạt tính mạng của chị T.

Bản cáo trạng số 213/CT-VKS ngày 04/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Nam Trí Q ra trước Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử về tội “Đe dọa giết người”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân đã đánh giá tính chất nguy hiểm cho xã hội về hành vi phạm tội của bị cáo Lê Nam Trí Q đánh giá các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 133; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 tuyên bố bị cáo Lê Nam Trí Q phạm vào tội “Đe dọa giết người” và đề nghị xử phạt bị cáo Qvới mức án từ 06 (Sáu) tháng đến 01 (Một) năm tù. Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng. Về hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp, trách nhiệm dân sự: Đại diện Viện kiểm sát không đề nghị xem xét.

Bị cáo Q không tranh luận và bào chữa gì về hành vi đã bị truy tố và nói lời sau cùng xin giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra - Công an quận Bình Tân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có Q lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Nam Trí Q đã khai nhận toàn bộ hành vi: Vào ngày 08/6/2022, tại nhà số 33/3 Đường số X, phường BHH A, quận BT bị cáo Q đã có hành vi tạt xăng và bật lửa 02 lần hướng về vợ mình là chị Đặng Thảo T dọa đốt chị T khiến chị T lo sợ việc bị cáo Q sẽ giết mình bằng cách đốt xăng. Sau đó, bị cáo Q bị bắt giữ, như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân đã truy tố đối với bị cáo. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan và vật chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

- Tại Kết luận giám định số: 3543/KL-KTHS ngày 23/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 01 bình nhựa màu trắng có kích thước 23x9cm không có nắp đậy, 01 chai nhựa trong suốt có kích thước 81x10cm có nắp đậy màu trắng bên trong có chứa một phần chất lỏng màu vàng và 01 tấm vải cũ đã qua sử dụng có kích thước 1,34x1,21x80cm tìm thấy thành phần xăng.

Như vậy, có đủ cơ sở để xác định hành vi nêu trên của bị cáo Lê Nam Trí Q đã phạm vào tội “Đe dọa giết người”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, ý kiến phát biểu tại phiên tòa của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân đánh giá nội dung vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Qvề tội “Đe dọa giết người” theo quy định tại khoản 1 Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Sau khi thực hiện hành vi tạt xăng, bật lửa hai lần uy hiếp tinh thần bị hại và được can ngăn, bị cáo Lê Nam Trí Q tiếp tục có hành vi đi mua xăng về để tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội là thuộc trường hợp: “Phạm tội 02 lần trở lên” nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017

Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo Qthuộc trường hợp cố ý phạm tội, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây mất trật tự an toàn xã hội. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự trong vụ án này với mức án thật nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa cho toàn xã hội.

Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị hại là chị T cũng là vợ của bị cáo và cha mẹ của bị cáo có đơn xin bãi nại và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để bị cáo có cơ hội trở về làm ăn phụ giúp bị hại nuôi hai con còn nhỏ, nên xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định tại các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về hình phạt bổ sung: Không.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Đặng Thảo T không có yêu cầu bồi thường gì và xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Quyền. Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với:

+ 01 bật lửa màu đỏ hình trụ kích thước 10x2,5cm.

+ 01 bình nhựa màu trắng có kích thước 23x9cm không có nắp đậy.

+ 01 chai nhựa trong suốt có kích thước 81x10cm có nắp đậy màu trắng bên trong có chứa một phần chất lỏng màu vàng.

+ 01 tấm vải cũ đã qua sử dụng có kích thước 1,34x1,21x80cm.

Hội đồng xét xử xét tất cả các vật chứng trên không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy;

+ 01 xe mô tô biển số 59N1-924.79 là phương tiện bị cáo Lê Nam Trí Q sử dụng phục vụ cho việc phạm tội. Qua xác minh xe trên do ông Đặng Hữu T (cha vợ bị can Q) đứng tên chủ sở hữu và cho con ruột là Đặng Thảo T (vợ bị can Q) mượn chở vải nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe trên cho ông T. Hội đồng xét xử không xem xét;

- Đối với: 01 USB bên trong có chứa 03 đoạn video ghi lại diễn biến vụ án và 02 đĩa ghi âm, ghi hình tiếp tục lưu kèm hồ sơ vụ án.

Đối với vụ án trên, ngày 14/6/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an Thành phố Hồ Chí Minh có Công văn số 3436 phúc đáp phiếu chuyển tố giác ngày 14/6/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Bình Tân với nội dung: Lời khai của Lê Nam Trí Q thể hiện mục đích dùng xăng tạt vào người chị Đặng Thảo T là để đe dọa yêu cầu chị T về nhà. Thực tế: Q mua 01 lít xăng vào phòng khách tạt từ dưới lên trên trúng vào người của chị T, bà Trần Thị H và cầm bật lửa bật 02 cái nhưng không thực hiện hành vi đốt. Sau đó, Q tiếp tục đi mua xăng quay lại hiện trường nhưng không sử dụng và hậu quả chưa xảy ra. Do vậy, chưa đủ căn cứ để xác định hành vi của Lê Nam Trí Q cấu thành tội: “Giết người” nên không thuộc thẩm Q của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an Thành phố Hồ Chí Minh.

Về án phí: Bị cáo Lê Nam Trí Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 133; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Lê Nam Trí Q phạm vào tội “Đe dọa giết người”.

Xử phạt bị cáo Lê Nam Trí Q 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/6/2022.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 hộp quẹt gas; 01 bình nhựa màu trắng có kích thước 23cm x 9cm không có nắp dập; 01 chai nhựa trong suốt có kích thước 81cm x 10cm; 01 tấm vải cũ đã qua sử dụng.

(Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân đang tạm giữ các vật chứng trên theo Phiếu nhập kho số NK22/210TAM ngày 29/9/2022).

Tiếp tục lưu kèm hồ sơ vụ án: 01 USB bên trong có chứa 03 đoạn video ghi lại diễn biến vụ án và 02 đĩa ghi âm, ghi hình.

3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: bị cáo Lê Nam Trí Q phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo, bị hại có mặt có Qkháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có Q lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có Q kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ