- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Ngô Trọng H, Huỳnh Thị Ngọc M - Phạm Thanh T, Nguyễn Lệ C"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của anh Ngô Trọng H, chị Huỳnh Thị Ngọc M. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 124/2017/DS-ST ngày 26/9/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.
- Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 212/2017/DS-PT Ngày: 14 - 12 -2017 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Xuân Trúc
Các Thẩm phán:
Bà Hoàng Thị Hải Hà
Bà Nguyễn Thị Hồng Liên
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Kim Yến là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thanh Răng – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 257/2017/TLPT-DS ngày 06 tháng 11 năm 2017 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 124/2017/DSST ngày 26 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 301/2017/QĐ-PT ngày 16 tháng 11 năm 2017 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Anh Ngô Trọng H, sinh năm 1984
2. Chị Huỳnh Thị Ngọc M, sinh năm 1992
Cùng cư trú: khóm 8, phường 8, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Ngườ i đạ i diệ n hợ p phá p củ a nguyên đơn : Anh Đặng Minh H; Địa chỉ cư trú: phường 5, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, giấy ủy quyền ngày 22 tháng 11 năm 2017(Có mặt).
- Bị đơn:
1. Ông Phạm Thanh T, sinh năm 1963 (Có mặt)
2. Bà Nguyễn Thị Lệ C, sinh năm 1964 (Có mặt)
Cùng cư trú: khóm 8, phường 8, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau
- Ngườ i có quyề n lợ i, nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Phạm Loan Th, sinh năm 1985(Vắng mặt).
2. Chị Phạm Phương Th, sinh năm 1987(Vắng mặt).
Cùng trú tạ i: khóm 8, phường 8, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau
3. Ông Trịnh Việt Tr; (Có mặ t).
Đị a chỉ cư trú: Ấp TH, xã TĐ, huyệ n Đầ m Dơi, tỉnh Cà Mau.
4. Ủy ban nhân nhân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Đị a chỉ: Số 77, Ngô Quyề n, phườ ng 9, thành phố Cà Mau, tỉnh CàMau.
Ngườ i đạ i diệ n hợ p phá p củ a UBND thành phố Cà Mau: Ông Lê Thanh D – Phó trưởng phòng Tài nguyên và Môi trườ ng thành phố Cà Mau; là người đại diện của UBND thành phố Cà Mau theo văn bản ủy quyền số 134/UBND-GUQ ngà y 07/6/2017(Xin vắ ng mặ t).
- Người kháng cáo: Anh Ngô Trọng H, chị Huỳnh Thị Ngọc M là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 31/10/2016, nguyên đơn là anh H và chị M cho rằ ng: Anh chị có phầ n đấ t gồ m 02 thử a tổ ng diệ n tí ch 180m2 (ngang 09m; dài 20m), về nguồ n gố c đấ t: Năm 2011 anh H, chị M được cha của anh H là ông Ngô Hoàng Khiêm tặng cho phần đất diện tích 90m2 (ngang 4,5m; dài 20m) thử a số 21, tờ bả n đồ số 48 tọa lạc tại số 358, Nguyễn Công Trứ, khóm 8, phường 8, thành phố Cà Mau. Phần đất này ông Khiêm được Ủy ban nhân dân tỉ nh Cà Mau cấp giấy chứng nhận Quyề n sử dụ ng đấ t năm 1999 chưa sang tên cho anh H.
Năm 2016 anh H, chị M nhận chuyển nhượng của ông Trịnh Việt Trung phần đất diện tích 90m2 (ngang 4,5m; dài 20m) thử a số 12, tờ bả n đồ số 34 tọa lạc tại số 358, Nguyễn Công Trứ, khóm 8, phường 8, thành phố Cà Mau, liền kề với phần đất trên, đã được Ủy ban nhân dân thành phố Cà Mau cấp giấy chứng nhận Quyề n sử dụ ng đấ t ngà y 04/3/2016, phầ n đấ t nà y giá p vớ i phầ n đấ t củ a ông T, bà C. Khi anh H, chị M đo đạ c lạ i cả hai thử a đấ t trên để cấ t nhà thì phá t hiệ n chiề u ngang phí a trướ c thiế u 0,2m dà i 10m; Từ mé t 11 đến hết phần đất phía sau thiếu khoảng 0,6m, anh H chị M cho rằ ng hộ ông T đã lấ n chiế m. Bở i trướ c đây ông Tr mượ n vá ch nhà ông T, quá trình ông T cấ t nhà ông Tr không có mặ t thườ ng xuyên ở đó để xác định ranh đất nên ông T đã lấ n qua đấ t ông Tr. Anh H, chị M yêu cầu tòa án buộc ông Tùng bà Chi trả lại cho anh chị phần đất đã lấn chiếm phía trước0,2m tương đương 2m2, phía sau mặt hậu 0,6m tương đương 6m2; tổng diện tích là 8m2.
Quá trình hòa giải và tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện nguyên đơn trình bày: Theo đơn thay đổ i yêu cầ u khở i kiệ n ngày 08/9/2017, năm 2016 anh H, chị M có nhận chuyển nhượng của ông Trịnh Việt Trung một phần đất theo giấ y chứ ng nhậ n QSDĐ diện tích 90m2 (ngang 4,5m; dài 20m), trên đấ t có căn nhà tạ m tọa lạc tại số 358, Nguyễn Công Trứ, khóm 8, phường 8, Cà Mau, căn nhà tạ m không đượ c ghi nhậ n trong giấ y chứ ng nhậ n QSDĐ , sau khi mua anh H chị M đã đượ c UBND cấ p giấ y chứ ng nhậ n QSDĐ diệ n tí ch như giấ y chứ ng nhậ n QSDĐ củ a ông Tr, giấ y cũng không ghi nhận căn nhà trên đất, đấ t mua có tứ cậ n phầ n tiế p giá p:
Đông Bắ c giáp đường Nguyễn Công Trứ
Tây Nam giáp Nguyễn Văn Tấn;
Đông Nam giáp ông Ngô Hoàng Khiêm (Cha anh H);
Tây Bắ c giáp ông Tùng, bà C.
Qua xem xé t thự c tế , anh H, chị M phát hiện phần đất anh chị mua bị thiế u so vớ i diệ n tí ch trong giấ y , anh H chị M cho rằ ng phầ n thiế u đó là do ông T bà C cấ t nhà lấ n qua, cụ thể phần lấn như sau : Từ mặ t tiề n nhà tiế p giá p đấ t ông T bà C đo và o 09m không lấ n, tiế p theo cho đế n hậ u đấ t phí a ông T, bà C lấ p qua 0,25m theo hì nh tam giá c, cạnh đáy là 0,25m, diệ n tí ch lấ n là 1,4m2, khi anh H chị M mua đấ t củ a ông Tr thì nhà ông T, bà C đã xây kiên cố như hiệ n nay , căn nhà tạ m trên đấ t củ a ông Tr bán cho anh H chị M nhờ vách của ông T bà C, còn vách bên phía ông Khiêm là vá ch chung giữ a hai nhà , căn nhà tạ m mua củ a ông Tr hiệ n vẫ n cò n nguyên không sử a chữ a gì . Khi mua nhà đấ t củ a ông Tr, anh H chị M không đo đạ c thự c tế diệ n tí ch đấ t mà chỉ mua diệ n tí ch đấ t thể hiệ n trên giấ y chứ ng nhậ n quyền sử dụng của ông Tr. Nay anh H chị M yêu cầu Tòa án buộc ông Tùng bà C trả lại cho anh chị phần đất mà ông Tùng bà Chi lấn chiếm nêu trên. Anh H chị M không yêu cầ u Tòa án giải quyết hợp đồ ng chuyể n nhượ ng đấ t giữ a anh chị vớ iông Tr, cũng không yêu cầ u đưaông Tr vào tham gia tố tụng, nế u Tò a á n không chấ p nhậ n yêu cầ u củ anh H chị M thì anh chị sẽ tự giải quyết vớiông Tr.
Ông Phạm Thanh Tùng, bà Nguyễn Thị Lệ C trình bày: Năm 1990 vợ chồ ng ông có nhậ n chuyể n nhượ ng củ a ông Đặ ng Văn Bì nh mộ t phầ n đấ t diệ n tí ch 180m2 (chiề u ngang 9m; chiề u dà i 19,80m) đượ c Ủ y ban nhân dân thà nh phố Cà Mau cấ p giấ y chứ ng nhậ n năm 2003 cho hộ gia đình, có tứ cận:
Đông Bắ c giáp đường Nguyễn Công trứ;
Tây Nam giáp ông Đặng Văn Bình;
Đông Nam giáp anh H chị M;
Tây Bắ c giáp Đặng Văn Bình.
Đế n năm 2014 ông bà xây dự ng nhà kiên cố mộ t nử a đấ t , vị trí giáp ranh đất của ông Tr thờ i điể m đó (chiề u ngang 4,5m; chiề u dà i hế t đấ t ) hiệ n nay là giá p ranh vớ i anh H chị M. Phầ n cò n lạ i ông bà xây dự ng nhà cấ p 4 để cho thuê nhà trọ giáp ranh đất của ông Bình . Khi ông bà xây nhà thì ông Tr có kiện ông bà đến Ủy ban nhân dân phườ ng 8 và được Ủy ban nhân dân phường 8 giải quyết tiến hành đo đạ c cặ m ranh cụ thể xong ông bà mớ i cấ t nhà kiên cố như hiệ n nay . Lúc đo đạc thì phầ n đấ t củ a ông bà có lấ n qua phấ n đấ t củ a ông Tr khoảng 30cm cho nên ông bà đã trả lạ i phầ n đấ t đó cho ông Tr và cất nhà cách nhà ông Tr 30cm, nhà của ông Tr nhờ vá ch nhà ông bà từ lú c cò n căn nhà cũ cho đế n nay là căn nhà mớ i vẫ n cò n nhờ . Khi ông bà đo đạ c cặ m ranh cấ t nhà có ông Tr, anh H chị M vớ i đạ i diệ n chính quyền địa phương gồm anh Ngoan cán bộ địa chính
, ông Huỳ nh Trọ ng Trung - Phó ban nhân dân khó m chứ ng kiế n nhưng không lậ p biên bả n . Nay ông bà xác định không lấn chiếm đất của anh H chị M nên không chấ p nhậ n yêu cầ u của anh H chị M. Phầ n đấ t củ a gia đì nh ông dư phí a sau so vớ i giấ y chứ ng nhậ n là do ông mượ n đấ t củ a ông Bì nh.
Chị Phạm Loan Th và Phạm Phương Th trình bày qua bản khai ngày
20/12/2016 các chị là con của ông T bà C, toàn bộ phần đất 180m2 và kiến trúc nhà trên đấ t tạ i số 358, khóm 8, phườ ng 8, thành phố Cà Mau là tài sản của cha mẹ các chị không liên quan gì đến các chị , các chị không có ý kiến gì về việc tran h chấ p này và xin không tham gia tố tụng.
Ông Trịnh Việt Tr trình bày tại bản khai ngày 29/8/2017: Khoảng tháng 02/2016 ông có chuyển nhượng cho vợ chồng Hiện , Mai căn nhà và đấ t số 358, Nguyễ n Công Trứ , khóm 8, phườ ng 8, thành phố Cà Mau , tỉnh Cà Mau , lúc chuyể n nhượ ng vợ chồ ng Hiệ n , Mai có xem nhà và giấy chứng nhận QSDĐ , ông có nói phần đất thực tế nhỏ hơn so với diện tích trong giấy , đồ ng ý thì mua , tránh tình trạng sau này hai bên tranh chấp ông giao đấ t không đủ , thự c ra ông không nó i thì Hiện, Mai cũ ng biế t vì hai đứ a ở kế bên nhà , lại là bà con , ông là dượng của Hiệ n, hai đứ a biế t giữ a ông và vợ chồng ông T, bà Chi có tranh chấ p đấ t nhưng chúng vẫn mua và nói chấ p nhậ n mua để thay ông khở i kiệ n tranh chấ p đấ t vớ i ông T bà C, lúc đó nhà của ông T bà Chi đã xây dự ng hoà n thà nh trướ c đó mấ y năm . Việ c ông chuyể n nhượ ng nhà đấ t cho Hiệ n , Mai đã hoà n tấ t , hai bên không tranh chấ p hợ p đồ ng chuyể n nhượ ng , Hiệ n, Mai có đò i đượ c đấ t hay không không liên quan đế n ông nên ông xin không tham gia tố tụ ng trong vụ á n nà y.
Ông Lê Thanh D đạ i diệ n UBND thành phố Cà Mau trình bày tại bản tự khai ngà y 07/6/2017, 20/9/2017 cho rằ ng hồ sơ cấ p giấ y chứ ng nhậ n QSDĐ cho anh Ngô Trọ ng H , chị Huỳnh Thị Ngọc M và hộ ông Phạm Thanh T là đúng theo quy đị nh củ a phá p luậ t, đố i vớ i vớ i đấ t củ a anh H chị M khi cấ p UBND không tiế n hành đo đạc thực tế vì đôi bên chuyể n nhượ ng toà n bộ diệ n tí ch trong giấ y chứ ng nhậ n nên Ủy ban căn cứ và o bả n vẽ cũ trong hồ sơ để cấ p giấ y , nay có sai só t về diệ n tí ch thì đương sự liên hệ vớ i văn phò ng đăng ký QSDĐ để đượ c điề u chỉ nh , ông xin không tham gia tố tụ ng.
Những vấn đề các đương sự thống nhất được với nhau: Các đương sự thống nhấ t vớ i sơ đồ bả n vẽ hiệ n trạ ng đấ t củ a hai bên và hiệ n trạ ng đấ t tranh chấ p mà Tòa án kết hợp vớ i đị a chí nh phườ ng 8, thành phố Cà Mau và cá c đương sự đo đạ c và vẽ ngày 18/9/2017. Và hai bên thống nhất không yêu cầu tiến hành định giá phầ n đấ t tranh chấ p , mà chấp nhận mức giá đất UBND tỉnh Cà Mau quy định khung giá đấ t cho đườ ng Nguyễ n Công Trứ tại thời điể m xé t xử .
Tại phiên tòa sơ thẩm, Luậ t sư bả o vệ quyề n lợ i cho anh H, chị M trình bày: Hồ sơ cấ p giấ y chứ ng nhậ n quyền sử dụng đất cho ông T bà C sai vị trí so vớ i vị trí bản vẽ trong giấy chứng nhận ngang thành dọc và ngược lại , ông T cấ t nhà trướ c ông Tr, khi cấ t giữ a hai bên không có biên bả n xá c đị nh ranh giớ i, năm 2014 ông T cấ t nhà lạ i, ông Tr có yêu cầu chính q uyề n đo đạ c lạ i , đấ t ông Tr thiế u, đấ t ông T thừ a nên ông T có trả lại cho ông Tr nhưng trả lạ i vẫ n không đủ , qua hai lầ n đo đạ c thự c tế cạ nh chiề u ngang sau hậ u đấ t ông T đều thừa, về quyề n khở i kiệ n do anh H chị M mua đấ t củ a ông Tr là mua luôn quyền khởi kiện vì vậy kiến nghị chấp nhận yêu cầ u củ a nguyên đơn.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 124/2017/DS-ST ngày 26/9/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau đã quyết định:
Căn cứ vào các điều 26, 35, 147 BLTTDS; Các điều 164,166,175,176 BLDS; Các điều 166,170,203 Luậ t đấ t đai.
Không chấp nhận yêu cầu của anh Ngô Trọ ng H và chị Huỳ nh Thị Ngọc M khở i kiệ n ông Phạ m Thanh T và bà Nguyễn Thị Lệ C đòi phần đất có dạng hình tam giá c, cạnh đáy là 0,25m thuộ c cạ nh chiề u ngang hậ u đấ t hộ ông T, cạnh góc vuông là 11,23m thuộ c cạ nh tiế p giá p giữ a hai phầ n đấ t từ phí a hậ u đấ t đo lên, diệ n tích 1,4m2 tọa lạc tại khóm 8, phườ ng 8, Tp.Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 09/10/2017, anh Ngô Trọng H và chị Huỳnh Thị Xuân Mai kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện buộc ông Phạm Thanh T, bà Nguyễn Lệ C giao trả phần đất bị lấn chiếm có diện tích 1,4m2.
Ngày 04/12/2017 anh H, chị M có đơn xin rút yêu cầu khởi kiện.
Tại phiên Tòa phúc thẩm, ông T, bà C không thống nhất việc việc rút yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Đại diện nguyên đơn xác định giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử là đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm bác kháng cáo của anh H, chị M, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tại đơn kháng cáo và tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện cho anh Ngô Trọng H và chị Huỳnh Thị Ngọc M đề nghị tòa phúc thẩm xem xét sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện buộc ông Phạm Thanh T, bà Nguyễn Lệ Chi giao trả phần đất bị lấn chiếm có diện tích 1,4m2. Qua xem xét Hội đồng xét xử thấy rằng:
Phầ n đấ t củ a anh H, chị M nhận chuyể n nhượ ng củ a ông Trịnh Việt Trung và o ngày 26/01/2016 đến ngày 04/3/2016 anh, chị đư ợc cấp giấy chứng nhậ n quyền sử dụng đất. Phần đất của ông T, bà C đượ c xây dựng từ năm 2014 có giấy phép xây nhà , tại thời điểm ông T xây dự ng nhà phí a ông Tr có yêu cầu đến UBND phườ ng 8 đo đạ c cặ m mố c lạ i cho ông T xây dự ng , lúc đó có các anh Huỳnh Trọng Trung nguyên là Phó khóm 8, phườ ng 8 và anh Đỗ Thà nh Ngoan nguyên là C án bộ phụ trách xây dựng phường 8, thành phố Cà Mau, lờ i khai của các anh này tại các bút lục số 101, 102, 103 xác định các anh có xuống chứng kiến cho cá c bên đo đạ c để ông T xác định vị trí xây nhà nhưng không lập biên bản , điề u nà y chứ ng tỏ rằ ng tạ i thờ i điể m đó phí a ông Tr đã thố ng nhấ t vớ i vị trí và kí ch thướ c đấ t thự c tế củ a mì nh để cho ông T cấ t nhà mà không có ý kiế n phả n đố i hoặ c yêu cầ u gì khá c, mặ t khá c chí nh lờ i thừ a nhậ n củ a ông Tr (bút lục số 99, 178) xác đị nh căn nhà củ a ông cấ t liề n kề và mượn vách nhà cũ của ông T, khi ông T cấ t nhà có mờ i đạ i diện chính quyền phường 8 xuố ng đo đạ c, đấ t củ a ông bị thiế u, còn đấ t ông T thừ a nên ông T đã trả lạ i cho ông phầ n đấ t thừ a và cấ t nhà cá ch nhà ông khoảng 30cm, mặ c dù ông T có trả đất cho ông nhưng đất ông vẫn còn thiếu , lúc đó ông có hỏ i cá n bộ đị a chí nh phườ ng thì cá n bộ đị a chí nh nó i ông có quyề n khở i kiệ n ra Tòa để đo đạc lại hết cả dãy và phải chịu chi phí đo vẽ , do thấ y khở i kiệ n phứ c tạ p nên ông không yêu cầ u, chứ ng minh cho lờ i trì nh bà y củ a ông Tr qua xem xét thực tế hàng cột nhà của ông Tr (là nhà anh H, chị M hiệ n nay) có khoảng cách vách tường nhà ông T khoảng 30cm, cộ t nhà cũ sau cùng của ông T tiế p giá p nhà anh H chị M hiệ n nay vẫ n cò n (có bản ảnh kèm theo ) cộ t nhà nà y có khoả ng cá ch so vớ i vá ch tườ ng nhà mớ i củ a ông T cấ t như hiệ n nay cá ch khoả ng 30cm nằ m bên phầ n đấ t củ a anh H, chị M. Như vậ y có cơ sở xác định thời điểm ông T cấ t nhà thì ông Tr và ông T đã có sự thố ng nhấ t vị trí ranh đấ t vớ i nhau bằ ng việ c hai bên có nhờ cá n bộ đị a chí nh phườ ng đo đạ c xá c đị nh vị trí , từ đó ông T mớ i cấ t đượ c nhà mà không có khiếu nại hay phản đối của ông Tr.
Mặc dù tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và anh Tr đều cho rằng khi chuyển nhượng đất thì anh Tr không biết đất bị thiếu nên không thông báo cho anh H, chị M, khi anh H chị M phát hiện đất thiếu thì anh chị có quyền khởi kiện. Tuy nhiên, chứng cứ có tại hồ sơ và tại giai đoạn sơ thẩm thể hiện khi anh H, chị M nhận chuyể n nhượ ng quyền sử dụng đất của ông Tr thì anh, chị đã biết phần đất nhận chuyển nhượng không đủ so vớ i diệ n tích được cấp trong giấy chứng nhận , điều này thể hiệ n qua lờ i khai củ a ông Tr tại các bút lục 99, 178 và lời thừa nhận của anh Nguyễn Văn Nuôi tạ i phiên tò a và tạ i biên bả n ghi lờ i khai ngà y 31/8/2017 (bút lục 187). Như vậy, anh H và chị M đã biết diệ n tí ch đấ t thự c tế là thiế u nhưng anh chị không đặ t ra vấ n đề gì đố i vớ i ông Tr là xem như mặc nhiên chấp nhận với diện tích đất thực tế . Mặ t khá c, khi ông T, bà C xây dự ng nhà có xin giấ y phép xây dựng , có bản vẽ kỹ thuật (bút lục 46 đến 54) thể hiệ n bứ c tườ ng nhà ông T tiế p giá p nhà ông Tr là bức tường thẳng , qua xem xé t và hì nh ả nh chụ p thự c tế bứ c vá ch tườ ng nhà
ông T hiệ n nay cũ ng là tườ ng thẳ ng không cong như phí a nguyên nguyên đơn trì nh bà y. Đối với bản vẽ đo đạ c ngà y 20/01/2017 (bút lục 94) các đương sự xác định bản vẽ này đo đạc theo đơn khở i kiệ n nhậ p phầ n đấ t củ a ông Khiêm vớ i phầ n đấ t củ a anh H chị M mua của ông Tr nên chưa thể hiệ n đượ c phầ n tranh chấ p giữ a đấ t anh H chị M mua vớ i đấ t ông T, bản vẽ chính xác là bản vẽ ngày 18/9/2017, trướ c phiên tò a cá c đương sự cò n đượ c xem xé t lạ i bả n vẽ và bổ sung số đo, vị trí cụ thể được Tòa án lập biên bản ghi nhận.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh H, chị M được Ủy ban nhân dân thành phố Cà Mau cấp chỉ căn cứ và o hồ sơ chuyể n nhượ ng gồ m hợ p đồ ng chuyể n nhượ ng quyền sử dụng đất có công chứ ng chứ ng thự c , trích lục bản đồ địa chính do cán bộ địa chính trích lục mà không thẩm định diện tích đất thực tế là chưa chí nh xá c, vấ n đế nà y đượ c đạ i diệ n U ỷ ban nhân dân thành phố Cà Mau xác đị nh sẽ điề u chỉ nh diệ n tí ch khi đương sự có yêu cầ u.
Theo bả n vẽ hiệ n trạ ng đấ t củ a hai bên cũ ng như hiệ n trạ ng đấ t tranh
chấ p đượ c cá c bên thố ng nhấ t ngà y 18/9/2017 thì số đo chiều ngang mặt hậu đất ông T tính từ vách nhà phí a ngoà i tiế p giá p đấ t anh H chị M đến tiế p giá p cộ t nhà ông Liêm tiế p giá p cạ nh cò n lạ i chiề u dà i đấ t ông T là 9,36m, trong đó phầ n đấ t trố ng giữ a hai nhà ông Bì nh và ông T là 0,15m, phầ n đấ t ông T cấ t nhà lấ n ra bên phầ n đấ t trố ng giữ a nhà ông Bì nh và ông T là 0,2m, hai phầ n thừ a nà y không nằ m trong QSDĐ củ a ông T, vì theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T thì phầ n đấ t củ a ông có cạ nh tiế p giá p vớ i đấ t ông Bì nh là cạ nh thẳ ng , hai phầ n đấ t thừ a nà y đượ c ông Bì nh xá c đ ịnh đó là đấ t củ a ông thể hiệ n tạ i bút lục số 100, vấ n đề này phù hợp với bản vẽ hiện trạng đất ông T và các bản ảnh chụp phần đất trống giữ a hai nhà có phầ n lam nướ c trên cử a sổ nhà ông Bì nh bị đậ p mộ t phầ n . Đối trừ kích thước phần đất của ông Bình thì số đo chiều ngang sau hậu đất ông T còn lại là 9,01m, phầ n thừ a là 01cm là số đo quá nhỏ không thể hiệ n phí a ông T lấ n đấ t của anh H, chị M.
Do đó , yêu cầ u củ a anh H, chị M không đượ c án sơ thẩm chấ p nhậ n là hoàn toàn có cơ sở.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của anh Ngô Trọng H, chị Huỳnh Thị Ngọc M giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của anh Ngô Trọng H, chị Huỳnh Thị Ngọc M. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 124/2017/DS-ST ngày 26/9/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.
Không chấp nhận yêu cầu của anh Ngô Trọng H và chị Huỳnh Thị Ngọc M khở i kiệ n ông Phạ m Thanh T và bà Nguyễ n Thị Lệ C đò i phầ n đấ t có dạng hình tam giá c, cạnh đáy là 0,25m thuộ c cạ nh chiề u ngang hậ u đấ t hộ ông T, cạnh góc vuông là 11,23m thuộ c cạ nh tiế p giá p giữ a hai phầ n đấ t từ phí a hậ u đấ t đo lên, diệ n tích 1,4m2 tọa lạc tại khóm 8, phườ ng 8, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Án phí dân sự sơ thẩm anh H, chị M phải nộp 565.000 đồng, ngày 14/11/2016 anh H chị M đã dự nộp 1.100.000 đồng tại biên lai số 0003694của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau đượ c hoà n lại 535.000 đồng.
Án phí dân sự phúc thẩm: Anh Ngô Trọng H, chị Huỳnh Thị Ngọc M phải chịu 300.000 đồng. Ngày 10/10/2017, anh Ngô Trọng H, chị Huỳnh Thị Ngọc M đã dự nộp 300.000 đồng theo Biên lai số 0003797 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau được chuyển thu án phí.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau; - Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau; - Chi cục THADS thành phố Cà Mau; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn; - Lưu VT, (TM:TANDTCM). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trịnh Xuân Trúc |