- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Huỳnh Văn H, bà Trần Thị H1;
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 211/2025/DS-PT Ngày 16 - 4 - 2025 V/v Tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
TÒA ÁN NHÂN DÂNTỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Ngọt
Các Thẩm phán:
Ông Huỳnh Ngọc Dũng
Bà Nguyễn Thị Rẻn
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thảo Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 45/2025/TLPT-DS ngày 21/02/2025 về việc “Tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 05B/2025/DS-ST ngày 09/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 877/2025/QĐ-PT ngày 05/3/2025. Quyết định hoãn phiên tòa số 1098/2025/QĐ-PT ngày 25/03/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Ông Huỳnh Văn H, sinh năm 1955. (có mặt)
2. Bà Trần Thị H1, sinh năm 1961.
Cùng địa chỉ: 3, ấp S, xã S, huyện C, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Trần Thị H1: Ông Huỳnh Tấn H2, sinh năm 1986. Địa chỉ: Ấp S, xã S, huyện C, tỉnh Bến Tre. (có mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1964. Địa chỉ: 7, ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre. (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ủy ban nhân dân xã P, huyện C.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đoàn Hữu Đ - Chủ tịch.
Người được ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Mạnh C - Phó Chủ tịch (có mặt)
2. Phòng giáo dục huyện C, tỉnh Bến Tre: (không kháng cáo kháng nghị nên không triệu tập)
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Thanh S – Trưởng phòng.
Người được ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Phạm Thanh Q - Chuyên viên.
3. Trường Trung học cơ sở P. (không kháng cáo kháng nghị nên không triệu tập)
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn L - Hiệu Trưởng.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Huỳnh Văn H, bà Trần Thị H1.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo bản án sơ thẩm
Theo đơn khởi kiện, văn bản trình bày ý kiến và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Huỳnh Văn H trình bày:
Vào khoảng 08 giờ ngày 17 tháng 9 năm 2023, ông Nguyễn Văn T dẫn theo một số người không rõ tên và nơi cư trú đến tại phần đất của nguyên đơn thuộc thửa 553, tờ bản đồ số 12, tọa lạc xã P. Ông T cùng các đối tượng tự ý đập phá bức tường rào kiên cố trên phần đất của nguyên đơn có chiều dài khoảng 16m, cao 1,5m, độ dày hơn 0,1m có giá trị hơn 20.000.000 đồng.
Trong quá trình ông T đập bức tường thì phía gia đình nguyên đơn không biết để ngăn cản do cách nhà nguyên đơn rất xa. Khi biết tin nguyên đơn có đến gặp ông T để hỏi thì ông T cho biết là do ông C hiện là Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) xã chỉ đạo đập phá.
Do bức tường này rất quan trọng đối với nguyên đơn vì nó đã ngăn, chống tác động môi trường bên ngoài rất hiệu quả đồng thời không cho kẻ xấu trực tiếp xâm phạm đến tài sản trên đất của nguyên đơn kể từ khi nguyên đơn trực tiếp quản lý và sử dụng phần đất xa nhà này.
Nguyên đơn đã nhiều lần yêu cầu UBND xã P giải quyết nhưng UBND xã chưa giải quyết do đó nguyên đơn khởi kiện yêu cầu buộc ông Nguyễn Văn T bồi thường cho nguyên đơn giá trị phần rào bị đập phá với số tiền theo giá của Hội đồng định giá là 17.145.600 đồng.
Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trần Thị H1 trình bày:
Bà thống nhất với lời trình bày và yêu cầu của ông H.
Theo văn bản trình bày ý kiến và tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:
Tiếp giáp với QL 57 bên hông trại cây giống có đường dẫn vào Trường Trung học cơ sP (THCS) P và đường liên ấp. Trên con đường khi đó có tường rào bê tông dài khoảng 80m do Trường THCS xã P xây dựng để bảo vệ khuôn viên nhà trường. Đến năm 2021 do xã P chuẩn bị lên xã nông thôn mới nên các tuyến đường liên ấp mở rộng theo tiêu chí lên 3m chiều rộng. Sau khi tuyến đường lên 3m thì phần vách tường nằm che chắn có thể gây tai nạn khi các phụ huynh đưa con vào trường học và các hộ dân tham gia giao thông trên tuyến đường này có nguy cơ gây tại nạn giao thông do bức tường che khuất tầm nhìn.
Do nhiều lần phụ huynh phản ảnh trong cuộc họp tổ nhân dân tự quản, nên vào ngày 25/8/2023 có đoàn đại biểu Hội đồng nhân dân huyện Chợ Lách đến UBND xã P tiếp xúc cử tri. Trong buổi tiếp xúc cử tri thì có ông Nguyễn Văn M có ý kiến xin cho đập bức tường nói trên do khuất tầm nhìn khi tham gia giao thông thì được trả lời bức tường nằm trên phần đất Trường THCS xã P do Phòng giáo dục huyện C quản lý và đề nghị UBND xã liên hệ Phòng giáo dục huyện xin ý kiến giải quyết.
Đến ngày 10/9/2023, ông C - Phó Chủ tịch UBND xã P kêu ông lên UBND xã và chỉ đạo cho ông kêu thêm vài người nữa để đập phá bức tường và có nói đã xin ý kiến Phòng giáo dục đã đồng ý cho đập bức tường nói trên. Đến ngày 27/9/2023 thì ông có huy động lực lượng ấp C1 và ấp P cùng các phụ huynh hai ấp đến đập bức tường và vận chuyển bê tông mang đi trãi các tuyến đường công cộng của hai ấp.
Ông T không trực tiếp đập bức tường nhưng có thực hiện theo sự chỉ đạo của ông C, ông không biết bức tường này thuộc quyền quản lý của nguyên đơn mà trước giờ chỉ biết là của trường học.
Do ông thực hiện theo sự chỉ đạo nên ông không đồng ý theo yêu cầu của nguyên đơn.
Theo văn bản trình bày ý kiến người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đại diện UBND xã P trình bày:
Năm 2015,Trường THCS P được xây dựng trong đó có tường rào giáp ranh với thửa đất 487 của Trại thực nghiệm cây giống huyện C. Từ năm 2017 đến nay Trường THCS P không sử dụng tường rào, nhưng cũng chưa thanh lý cho bất cứ cá nhân hay tổ chức nào.
Quá trình thanh lý và chuyển nhượng từ năm 2015 đến năm 2023 chủ sử dụng thửa 553 (tách ra từ thửa 487) chủ sử dụng đất là ông Huỳnh Văn H liền kề tường rào.
Năm 2022, các phụ huynh học sinh có ý kiến xin tháo dỡ 01 đoạn tường rào do khuất tầm nhìn khi lưu thông ra QL 57 dễ xảy ra tai nạn nên UBND xã P có xin ý kiến của Phòng giáo dục và được sự đồng ý cho tháo dỡ một phần tường rào, ông có chỉ đạo cho ông Nguyễn Văn T tiến hành đập bức tường này thuộc quyền quản lý của Phòng G.
Ông Huỳnh Văn H khiếu nại việc tường rào thuộc phần đất của ông thì đề nghị đo đạc, nếu kết quả đo đạc xác định tường rào xây dựng trên đất của ông Huỳnh Văn H thì UBND xã P sẽ đề nghị tháo dỡ toàn bộ tường rào để trả lại mặt bằng đất cho ông H.
Theo văn bản trình bày ý kiến người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đại diện Phòng giáo dục và đào tạo huyện C trình bày:
Con đường dẫn từ QL 57 đến trường dài 115m và 01 bức tường xây gạch ống cao khoảng 2m, dài 79,5m cặp bên hông đường vào trường, mục đích khi xây dựng bức tường này là để đảm bảo an toàn cho học sinh và giáo viên khi đi vào trường vì trước đây khu đất xây dựng Trường THCS P là của nông trường sản xuất cây giống và chăn nuôi do nhà nước quản lý còn hoang vu nhiều mương rảnh không đảm bảo an toàn cho học sinh khi đến trường. Do đó, khi công trình hoàn thành và bàn giao cho trường quản lý sử dụng thì bức tường rào tại vị trí tranh chấp thuộc tài sản của trường và do trường quản lý.
Ngày 08/9/2023, Phòng giáo dục có nhận được tờ trình số 370/TTr-UBND của UBND xã P về việc xin tháo vách tường cặp đường vào trường với lý do bức tường che khuất tầm nhìn không đảm bảo an toàn giao thông. Ngày 19/9/2023, Phòng giáo dục đến Trường THCS P để phối hợp xem xét việc xin tháo dỡ bức tường để trình các cơ quan liên quan, tuy nhiên khi đến xem xét thì bức tường trên đã bị tháo dỡ xong và đơn vị tháo dỡ cũng không có thông báo cho lãnh đạo T1 để biết, do đó Phòng giáo dục không có trả lời hoặc không cho chủ trương tháo dỡ bức tường trên cho UBND xã P.
Xét thấy, bức tường bị tháo dỡ cũng không ảnh hưởng đến hoạt động của Trường THCS P và đào tạo không có ý kiến và yêu cầu gì khác nhưng phải đảm bảo quyền sử dụng đất và cơ sở vật chất của trường được cấp ban đầu. Đối với đoạn tường rào còn lại Phòng Giáo dục nhận thấy hiện tại có một số đoạn bị người dân tháo dỡ để làm lối đi và việc tháo dỡ này không ảnh hưởng đến hoạt động của Trường THCS P.
Theo văn bản trình bày ý kiến người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đại diện Trường THCS P trình bày:
Bức tường rào tại vị trí tranh chấp là của Trường THCS P quản lý sử dụng không rõ lý do gì vì sao phần đất có tường rào của trường nay lại cấp quyền sử dụng đất cho nguyên đơn, khi làm thủ tục cấp cho hộ dân không có mời đại diện T1 xác định ranh, ký hiệp thương ranh.
Trước khi đập bức tường thì UBND xã P có thông tin bằng lời nói cho T1 hỏi ý kiến về việc đập bức tường nhưng trường học không đồng ý mà nói phải xin ý kiến Phòng giáo dục, sau đó UBND xã P tự thực hiện không có thông tin cho trường học.
Ông L (đại diện Trường học) không có yêu cầu gì đối với bức tường đang tranh chấp, phần tường còn lại thì yêu cầu giữ nguyên hiện trạng, phần đất ông cũng không yêu cầu nhưng sau này có phát sinh tranh chấp thì UBND xã P có trách nhiệm giải quyết và có đơn xin giải quyết vắng mặt.
Do hòa giải không thành, Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách đưa vụ án ra xét xử.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 05B/2025/DS-ST ngày 09/01/2025, Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách quyết định:
Căn cứ Điều 584, Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26, Điều 35, Điều 39; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Văn H, bà Trần Thị H1 về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn T có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm số tiền 17.145.600 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 22/01/2025, nguyên đơn ông Huỳnh Văn H, bà Trần Thị H1 kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số: 05B/2025/DS-ST ngày 09/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn ông Huỳnh Văn H thay đổi kháng cáo và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, ông H yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không đồng ý yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn. Các đương sự không thỏa thuận được về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Huỳnh Văn H, bà Trần Thị H1. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 05B/2025/DS-ST ngày 09/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên; xét kháng cáo của nguyên đơn ông Huỳnh Văn H, bà Trần Thị H1; Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn ông Huỳnh Văn H, bà Trần Thị H1 kháng cáo và gửi thủ tục kháng cáo hợp lệ trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung: Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Huỳnh Văn H, bà Trần Thị H1 yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H, bà H1, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Vào ngày 17 tháng 9 năm 2023, ông Nguyễn Văn T cùng một số người tự ý đập phá bức tường rào kiên cố trên phần đất của nguyên đơn thuộc thửa 553, tờ bản đồ số 12, tọa lạc ấp C, xã P, bức từng bị đập phá có chiều dài 15.2m, cao 2m, độ dày hơn 0,1m có giá trị theo Hội đồng định giá là 17.145.600 đồng. Nguyên đơn cho rằng do thửa đất nêu trên cách nhà nguyên đơn rất xa nên nguyên đơn không hay biết, khi biết tin thì nguyên đơn có đến gặp ông T để hỏi thì ông T cho biết là do ông Nguyễn Mạnh C - Phó Chủ tịch UBND xã P chỉ đạo đập phá, nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông T bồi thường thiệt hại với số tiền 17.145.600 đồng.
Ông T cho rằng ông không trực tiếp đập bức tường nhưng có thực hiện theo sự chỉ đạo của ông C - Phó Chủ tịch UBND xã P cùng một số hộ dân tham gia, ông không biết bức tường này thuộc quyền quản lý của nguyên đơn mà trước giờ chỉ biết là của Trường trung học cơ sở P, ông cho rằng chỉ thực hiện theo sự chỉ đạo nên ông không đồng ý theo yêu cầu của nguyên đơn.
Căn cứ vào hồ sơ vụ án thể hiện: Thửa đất số 553, tờ bản đồ số 12 do ông Huỳnh Văn H và bà Trần Thị H1 đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 26/7/2017 theo thủ tục nhận chuyển nhượng, khi nhận chuyển nhượng thì trên thửa đất đã có bức tường được xây dựng cặp theo ranh đất giáp với thửa đất 485 của Trường THCS P. Đến tháng 9/2023 có một đoạn bức tường bị phá dỡ nên phát sinh tranh chấp, sau đó ông H, bà H1 khởi kiện tại Tòa án.
Theo dữ liệu đất đai của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai cung cấp thì thửa đất số 553 nêu trên theo bản đồ gốc là thửa 487 cấp lần đầu cho ông Nguyễn Văn T2. Ngày 03/3/2015, tách thành các thửa 507, 508, 509, 510, 511, 512. Ngày 27/8/2015 thửa 512 tách thành nhiều thửa trong đó có thửa 553 đã chuyển nhượng cho bà Lê Thị C2 và ông Nguyễn Trọng L1; ngày 26/7/2017, thửa đất 553 tiếp tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Huỳnh Văn H, bà Trần Thị H1.
Căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 553 của ông H, bà H1 và sơ đồ mô tả kết quả đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thì thửa 553 có cạnh giáp với thửa 485 của Trường THCS P. Nguyên đơn thừa nhận bức tường này là của Trường THCS P xây dựng trước khi nguyên đơn nhận chuyển nhượng nhưng nguyên đơn cho rằng chủ đất cũ là ông Nguyễn Trọng L1 có xác định là khi nguyên đơn nhận chuyển nhượng thì bức tường này thuộc quyền sử dụng đất của nguyên đơn.
Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản đối với bức tường bị phá dở có kết cấu: trụ đá bê tông cốt thép, tường xây gạch có chiều dài 15,2m, cao 02m, dày 100mm, diện tích 30,4m2, tỷ lệ chất lượng còn lại là 50% và có giá trị là 17.145.600 đồng.
Nhận thấy bức tường bị phá dỡ một đoạn đang tranh chấp thì Phòng giáo dục và đào tạo huyện C xác định bức tường được xây dựng từ khi mới khởi công xây dựng Trường học có chiều dài 79,5m (Từ QL 57 dẫn đến trường) cặp bên hông trường, mục đích khi xây dựng bức tường này là để đảm bảo an toàn cho học sinh và giáo viên khi đi vào trường, vì trước đây khu vực này còn hoang vu, nhiều mương rãnh, nước không đảm bảo an toàn cho học sinh khi đến trường và nguyên đơn cũng thừa nhận bức tường này là do Trường THCS P xây dựng trước khi nguyên đơn nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Tại phiên tòa phúc thẩm, phía nguyên đơn trình bày khi nhận chuyển nhượng đất của ông L1 thì không có ghi bức tường trong hợp đồng chuyển nhượng, nhưng nguyên đơn nghĩ rằng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho nguyên đơn có ghi quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nên nguyên đơn cho rằng theo đo đạc thì bức tường nằm trên thửa đất 553 của nguyên đơn nên là tài sản của nguyên đơn.
Xét thấy, Trường THCS P trực thuộc Phòng giáo dục và đào tạo huyện C quản lý nhưng Phòng G đã xác định đoạn tường rào bị phá dỡ cũng không ảnh hưởng đến hoạt động của trường nên không có yêu cầu gì, hơn nữa bức tường này đã che khuất tầm nhìn, gây ảnh hưởng đến người dân và học sinh khi tham gia giao thông. Mặt khác, bức tường này không phải là tài sản của ông H, bà H1 mà là tài sản của Trường THCS P đã có sẵn trên đất khi ông H, bà H1 nhận chuyển nhượng đất do đó ông bà không bị thiệt hại do tài sản bị xâm phạm. Đồng thời, tại Biên bản làm việc ngày 03/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách đối với ông Nguyễn Trọng L1 là người chuyển nhượng thửa đất 553 cho ông Huỳnh Văn H thì ông L1 trình bày: “Ông có đứng tên thửa đất số 553, tờ bản đồ số 12, diện tích 187,9m2 , loại đất ONT và CLN, nguồn gốc do nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn T2. Ngày 26/7/2017 ông và bà C2 lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất nêu trên cho ông Huỳnh Văn H và bà Trần Thị H1. Khi ông và bà C2 nhận chuyển nhượng thì trên đất đã có sẵn hàng rào xây bằng gạch, cột bê tông cốt thép. Theo ông biết được thì hàng rào do Trường P xây dựng để ngăn đường đi vào đất của cá nhân. Nói chung khi chuyển nhượng đất, ông cứ nghĩ hàng rào nằm ngoài đất chuyển nhượng nên không đề cập gì đến hàng rào trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, sau này ông mới biết hàng rào trên đất còn nằm trên thửa đất 553”. Như vậy, người chuyển nhượng đất cho ông H cũng xác định không có đề cập tường rào khi chuyển nhượng đất cho ông H, nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Nguyên đơn ông H, bà H1 kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn nhưng nguyên đơn không có chứng cứ chứng minh tại phiên tòa phúc thẩm, do đó kháng cáo của nguyên đơn là không có cơ sở để chấp nhận.
Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Huỳnh Văn H, bà Trần Thị H1. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 05B/2025/DS-ST ngày 09/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.
Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên nguyên đơn ông Huỳnh Văn H, bà Trần Thị H1 phải chịu án phí phúc thẩm. Do ông H, bà H1 là người cao tuổi nên được miễn nộp án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Huỳnh Văn H, bà Trần Thị H1;
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 05B/2025/DS-ST ngày 09/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.
Căn cứ Điều 584, Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26, Điều 35, Điều 39; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Văn H, bà Trần Thị H1 về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn T có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm với số tiền 17.145.600 đồng.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyên đơn ông Huỳnh Văn H, bà Trần Thị H1 được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm (Do ông H, bà H1 là người cao tuổi).
3. Về chi phí tố tụng là 3.973.000 (ba triệu chín trăm bảy mươi ba nghìn) đồng, nguyên đơn ông Huỳnh Văn H, bà Trần Thị H1 có nghĩa vụ liên đới chịu và ghi nhận đã nộp xong.
4. Về án phí phúc thẩm: Ông Huỳnh Văn H, bà Trần Thị H1 được miễn nộp án phí phúc thẩm (do ông H, bà H1 là người cao tuổi).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bến Tre (1b); - TAND huyện Chợ Lách (1b); - Chi cục THADS huyện Chợ Lách (1b); - Phòng KTNV&THA TAND tỉnh (1b); - Các đương sự (6b); - Lưu: VT, hồ sơ vụ án (2b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Ngọt |