vanban.org

Bản án 211/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Văn Phù AT đối với ông Võ Hoàng P. Về hôn nhân: Cho bà Văn Phù AT được ly hôn với ông Võ Hoàng P. Giấy chứng nhận kết hôn số 213, quyển số 02/2014 do Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hiệp, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 01 tháng 12 năm 2014 cho bà Văn Phù AT và ông Võ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 211/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 12-7-2024.
V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CM, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ng Phạm Văn Dương.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Hồng và ông Nguyễn Văn Trí.

Thư ký phiên tòa: ng Quách Thuận An, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Tiên, Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 385/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 361/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 334/2024/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Văn Phù AT, sinh năm 1986; địa chỉ: số 232, Khóm 1, thị trấn LV, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Bị đơn: ng Võ Hoàng P, sinh năm 1987; địa chỉ: ấp Mỹ Lợi, xã Mỹ An, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các lời khai nguyên đơn bà Văn Phù AT trình bày: Bà và ông Võ Hoàng P cưới nhau vào năm 2014, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã MH, hôn nhân do mai mối sua đó ông bà có tìm hiểu được một thời gian mới tiến tới hôn nhân. Sau khi cưới bà và ông P sinh sống và làm việc tại thành phố CL, tỉnh Đồng Tháp được khoảng 03 năm. Đến năm 2018 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do chồng thường hay cờ bạc gây ra nợ nần nên vợ chồng nên vợ chồng hay cãi nhau và đã sống ly thân khoảng 06 năm, không tới lui thăm nhau. Thấy tình cảm không còn bà yêu cầu ly hôn với ông Võ Hoàng P; về con chung: có 01 con chung tên Võ Văn Hoàng K, sinh ngày 10/7/2015 hiện đang sống với bà T. Bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung; không có; về nợ chung; không có.

Bị đơn ông Võ Hoàng P đã được triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia phiên h p kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông vắng mặt không lý do. Nên Tòa án không ghi nhận ý kiến của ông về nội dung đơn khởi kiện của bà T.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

* Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:

Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 195, 196, 197, 198 và Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

* Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:

Đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm, bảo đảm các trình tự, thủ tục và quyền trATụng tại phiên tòa.

* Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

Đối với nguyên đơn: Bà Văn Phù AT, từ khi thụ lý vụ án, đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định, tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, có yêu cầu xét xử vắng mặt theo Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đối với bị đơn: ng Võ Hoàng P, từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa vắng mặt theo Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, 81, 82,83,84 Luật hôn nhân và gia đình, đế xuất;

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Văn Phù AT đối với ông Võ Hoàng P.

Về con chung: Bà Văn Phù AT được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Võ Văn Hoàng K, sinh ngày 10/7/2015, ông Võ Hoàng P không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết, nên không đề cập đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

* Về thủ tục tố tụng:

. Bà Văn Phù AT khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Võ Hoàng P. ng P có nơi cư trú tại ấp Mỹ Lợi, xã Mỹ An, huyện CM, tỉnh An Giang. Nên Tòa án nhân dân huyện CM thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại các Điều 28, 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

. Nguyên đơn bà Văn Phù AT có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Võ Hoàng P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.

* Về nội dung:

. Về hôn nhân: Bà Văn Phù AT và ông Võ Hoàng P xác lập quan hệ vợ chồng và chung sống với nhau vào năm 2014 có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân của ông, bà được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Bà T trình bày, sau khi cưới bà và ông P sinh sống và làm việc tại thành phố CL, tỉnh Đồng Tháp được khoảng 03 năm. Đến năm 2018 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do chồng thường hay cờ bạc gây ra nợ nần nên vợ chồng nên vợ chồng hay cãi nhau và đã sống ly thân khoảng 06 năm, không tới lui thăm nhau. Bà xác định tình cảm không thể tồn tại và hàn gắn được; cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Võ Hoàng P. Hội đồng xét xử xét thấy, ông Võ Hoàng P đã được tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án về việc bà T khởi kiện yêu cầu ly hôn và thông báo đến Tòa án tham gia phiên h p kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của bà T, cũng như tạo điều kiện hàn gắn hạnh phúc vợ chồng. Trong thời gian ly thân vợ chồng không tới lui thăm nhau để hàn gắn tình cảm, điều này cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm tr ng. Mặc khác, bà T xác định không còn tình cảm với chồng nếu tiếp tục chung sống cũng không hạnh phúc. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Văn Phù AT là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

. Về con chung: Bà Văn Phù AT xác định bà và ông Võ Hoàng P có 01 con chung tên Võ Văn Hoàng K, sinh ngày 10/7/2015 hiện đang sống với bà T. Bà T yêu cầu được tiếp tục con chung, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, việc giao con cho cha hoặc mẹ chăm sóc nuôi dưỡng phải căn cứ vào điều kiện sinh sống, phát triển cũng như nguyện v ng của con. Từ lúc vợ chồng ly thân đến nay T là người trực tiếp nuôi con nên tình cảm, tâm tư gắn liền với người nuôi dưỡng, thời gian chung sống với bà T cháu K vẫn phát triển về thể chất, tinh thần và được bà T tại điều kiện cho đi h c. Mặc khác, Tòa án đã ghi nhận ý kiến của cháu Võ Văn Hoàng K, qua ghi nhận cháu K có nguyện v ng muốn tiếp tục sống với mẹ. Do đó, cần để bà T tiếp tục nuôi con chung là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình cũng như nguyện v ng của con.

Do bà Văn Phù AT không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

. Về tài sản chung: do bà Văn Phù AT không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập, giải quyết.

. Về nợ chung: ghi nhận bà Văn Phù AT xác định không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đề cập, giải quyết.

. Về án phí: bà Văn Phù AT phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 144, 147, 227, 228, 235 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Các Điều 56, 57, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014.

- Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Văn Phù AT đối với ông Võ Hoàng P.

Về hôn nhân: Cho bà Văn Phù AT được ly hôn với ông Võ Hoàng P. Giấy chứng nhận kết hôn số 213, quyển số 02/2014 do Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hiệp, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 01 tháng 12 năm 2014 cho bà Văn Phù AT và ông Võ Hoàng P không còn giá trị pháp lý.

Về con chung: Bà Văn Phù AT được tiếp tục nuôi con chung Võ Văn Hoàng K, sinh ngày 10/7/2015, ông Võ Hoàng P không phải cấp dưỡng nuôi con.

Bà Văn Phù AT cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Võ Hoàng P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Về án phí: Bà Văn Phù AT phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) theo biên lai thu số 0015511 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 22 tháng 5 năm 2024. Bà T đã nộp xong.

Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ