- Tranh chấp gì? án hình sự — ". Tuyên bố bị cáo Phan Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 211/2023/HS-ST Ngày 12 tháng 12 năm 2023 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU- TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
+ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Bá Diễn.
+ Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Bình và bà Nguyễn Ngọc Cúc
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Quyết Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Thái Thị Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2023, tại phòng xét xử của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 219/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 227/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2023, đối với bị cáo:
Phan Văn T, Sinh ngày 20/4/1992, tại tỉnh Nghệ An.
Nơi cư trú: Xóm V, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Nghề nghiệp: Phụ hồ; Trình độ học vấn: 03/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Văn V, sinh năm 1966 và con bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1967; Có vợ tên Lê Thị T1, sinh năm 1990; có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2014. Gia đình có 04 anh em, bị cáo là thứ ba.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 04/3/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An tuyên xử 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Bị cáo đầu thú ngày 20/9/2023, tạm giữ ngày 21/9/2023, chuyển tạm giam ngày 30/9/2023. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V.
* Bị hại: Anh Phạm Văn T2, sinh năm 1973;
Nơi cư trú: Số A, tổ D, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Bị cáo có mặt, người tham gia tố tụng khác đều vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 20/9/2023, Phan Văn T điều khiển xe mô tô hiệu Sirius, biển số 60B1-080.81 đi từ thành phố B, tỉnh Đồng Nai đến khu vực xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai để tìm cơ hội trộm cắp tài sản. Khi đi đến đoạn đường TL768 thuộc ấp F, xã T, huyện V Thơ phát hiện tiệm hàn tiện ô tô (không tên) của anh Phạm Văn T2, sinh năm 1973, cư trú tại A, tổ D, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai có nhiều tài sản, không người trông coi nên dừng lại tìm cách đột nhập trộm cắp tài sản. T dùng cục đá bên đường đập ổ khóa, mở cửa vào trong tiệm trộm các tài sản gồm: 01 máy cắt tay màu vàng (không rõ nhãn hiệu); 04 máy cắt tay màu xanh (không rõ nhãn hiệu); 01 máy khoan tay màu xanh (không rõ nhãn hiệu); 01 máy hàn điện màu vàng hiệu Hồng Ký; 01 khuôn ép kim loại hình chữ nhật (không rõ nhãn hiệu); 01 bánh cầu xe hình tròn (không rõ nhãn hiệu); 01 gối đỡ ba lăng xe (không rõ nhãn hiệu); khoảng 30m dây điện lõi đồng (không rõ nhãn hiệu). Đến khoảng 23 giờ 20 phút cùng ngày, sau khi lấy được tài sản, T để những tài sản đã trộm được lên xe mô tô biển số 60B1-080.81 rồi điều khiển xe về hướng xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai tìm kiếm nơi tiêu thụ. Khi đến đoạn đường A, thuộc ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai, T bị lực lượng tuần tra Tổ 161 Công an huyện V kiểm tra, phát hiện nghi vấn, đưa người và tang vật về trụ sở làm việc. Tại Cơ quan Công an T đã đầu thú về hành vi trộm cắp của mình.
* Tại bản kết luận định giá tài sản số 77/KL-ĐGTS ngày 26/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện V xác định:
+ 01 (một) máy cắt tay màu vàng, trị giá 400.000 đồng;
+ 04 (bốn) máy cắt tay màu xanh, trị giá 1.600.000 đồng;
+ 01 (một) máy khoan tay màu xanh, trị giá 400.000 đồng;
+ 01 (một) máy hàn điện màu vàng hiệu Hồng Ký, trị giá 1.000.000 đồng;
+ 01 (một) khuôn ép kim loại hình chữ nhật, trị giá 200.000 đồng;
+ 01 (một) bánh cầu xe hình tròn, trị giá 800.000 đồng;
+ 01 (một) gối đỡ ba lăng xe, trị giá 600.000 đồng;
+ 30 mét dây điện lõi đồng, trị giá 750.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản thiệt hại là 5.750.000 đồng.
* Xử lý vật chứng:
+ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã giao trả:
01 (một) máy cắt tay màu vàng (không rõ nhãn hiệu) gắn đoạn dây điện; 04 (bốn) máy cắt tay màu xanh (không rõ nhãn hiệu) gắn đoạn dây điện; 01 (một) máy khoan tay màu xanh (không rõ nhãn hiệu) gắn đoạn dây điện; 01 (một) máy hàn điện màu vàng hiệu Hồng Ký gắn đoạn dây điện; 01 (một) khuôn ép kim loại hình chữ nhật (không rõ nhãn hiệu); 01 (một) bánh cầu xe hình tròn (không rõ nhãn hiệu); 01 (một) gối đỡ ba lăng xe (không rõ nhãn hiệu); 30 mét dây điện lõi đồng (không rõ nhãn hiệu); 01 ổ khóa cửa có móc cong hình tròn, thân ổ khóa màu vàng đồng cho chủ sở hữu là anh Phạm Văn T2.
+ Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Sirius, biển số 60B1-080.81, đề nghị Cơ quan Cảnh sát Điều tra chuyển Công an huyện V xử lý theo quy định.
* Về trách nhiệm dân sự: Anh Phạm Văn T2 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Tại bản Cáo trạng số 224/CT-VKSVC ngày 30 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu để xét xử Phan Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo Phan Văn T từ 08 đến 10 tháng tù và buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo luật định.
Ý kiến của bị cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, đồng ý với lời luận tội của Kiểm sát viên và không có ý kiến tranh luận gì. Bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về thủ tục tố tụng:
Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện. Như vậy các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng trước đó, Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho bị hại các văn bản tố tụng là Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập tới tham gia phiên tòa. Đồng thời, việc vắng mặt của bị hại không trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng bị hại và quyền kháng cáo của bị hại được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
. Về tội danh và hình phạt:
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở kết luận: ngày 20/9/2023, tại ấp F, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai, Phan Văn T có hành vi lén lút chiềm đoạt của anh Phạm Văn T2 các tài sản gồm: 01 máy cắt tay màu vàng; 04 máy cắt tay màu xanh; 01 máy khoan tay màu xanh; 01 máy hàn điện màu vàng hiệu Hồng Ký; 01 khuôn ép kim loại hình chữ nhật, 01 bánh cầu xe hình tròn; 01 gối đỡ ba lăng xe; khoảng 30m dây điện lõi đồng, có tổng trị giá 5.750.000 đồng. Như vậy bị cáo Phan Văn T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác nên cần xử phạt bị cáo một mức án đủ nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, sống tôn trọng pháp luật, đồng thời còn nhằm răn đe và phòng ngừa chung.
. Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân không tốt ngày 04/3/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An tuyên xử 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “ Cố ý làm hư hỏng tài sản”, tuy nhiên bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị cáo đầu thú và trong quá trình điều tra cũng như tại tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải; tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại. Do vậy Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Anh Phạm Văn T2 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì thêm nên Hội đồng xét xử không phải giải quyết.
. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Sirius, biển số 60B1-080.81, đề nghị Cơ quan Cảnh sát Điều tra chuyển Công an huyện V tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.
. Về án phí: Do bị cáo phạm tội nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
. Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Phan Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Phan Văn T 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 20 tháng 9 năm 2023.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Phan Văn T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ (hai trăm ngàn đồng).
3. Bị cáo Phan Văn T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Bị cáo; Bị hại; - VKSND huyện Vĩnh Cửu, Đồng Nai; - Chi cục THADS huyện Vĩnh Cửu, Đồng Nai; - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - Cơ quan điều tra, CA huyện Vĩnh Cửu; - Cơ quan THA hình sự Công an huyện Vĩnh Cửu, ĐN; - Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam Công an huyện Vĩnh Cửu; - UBND xã nơi bị cáo cư trú; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Bá Diễn |