- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”. - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134…"
- Tòa quyết gì? [1] Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ––––––––––––––– Bản án số: 211/2023/HS-PT Ngày: 09/3/2023 NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Trần Đức Hiếu
Thẩm phán:
Ông Hoàng Nhật Tân
Thẩm phán:
Ông Nguyễn Thanh Nhã
- Thư ký phiên tòa:
Ông Lý Minh Chính – Thư ký Toà án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:
Bà Vũ Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 09/3/2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 1009/2022/TLPT-HS ngày 19 tháng 12 năm 2022 do có kháng cáo của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 120/2022/HS-ST ngày 25/07/2022 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội theo Quyết định đưa vụ án hình sự ra xét xử phúc thẩm số 111/2022/QĐXXPT-HS ngày 20 tháng 02 năm 2023 đối với:
- Bị cáo không kháng cáo: Nguyễn Văn T, sinh năm 1962; Nơi thường trú: Thôn PT, xã ĐX, huyện SS, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 06/10; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố là Nguyễn Văn V (Đã chết); Mẹ là Nguyễn Thị V (Đã chết); Vợ là Nguyễn Thị Q, sinh năm 1967; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1993; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện tại ngoại; Có mặt.
- Bị hại có kháng cáo: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1989. Địa chỉ: Thôn PT, xã ĐX, huyện SS, thành phố Hà Nội. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Gia đình bị cáo Nguyễn Văn T và gia đình anh Nguyễn Văn T1 là hàng xóm gần nhau, nhiều năm tranh chấp phần đất lưu không giữa hai nhà. Khoảng 16 giờ 00′ ngày 01/12/2021, anh Nguyễn Văn T1 lái xe nâng gạch đặt các khối gạch ở phần đất lưu không đang tranh chấp thì Nguyễn Văn T yêu cầu anh T1 đặt các khối gạch ở nơi khác nhưng anh T1 không đồng ý. T đi về nhà lấy 01 thanh kim loại dài 1,4m, một đầu tròn, một đầu hơi nhọn cầm mang ra thì thấy anh T1 vẫn đang điều khiển xe nâng định đặt tiếp các khối gạch, T đi tới chỗ xe nâng của anh T1 đang ở phần đất lưu không, T cầm thanh kim loại đâm liên tiếp ba phát theo hướng từ dưới lên trên trúng cánh tay phải, trúng răng và sượt qua đầu bên phải của anh T1, làm anh T1 bị thương tích. Anh T1 nhảy xuống xe nâng và chạy về nhà và được gia đình đưa đi khám và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
Tại bản kết luận giám định pháp y thương tích số 1300/TTPY của Trung tâm pháp y Hà Nội ngày 27/12/2021 và bản kết luận giám định pháp y thương tích bổ sung 248/TTPY của Trung tâm Pháp y Hà Nội ngày 07/3/2022, kết luận về thương tích của anh Nguyễn Văn T1:
+ Sẹo vết thương vùng thái dương - đỉnh phải, vết thương vết mổ dọc cánh tay phải: 03%;
+Các chạm thương phần mềm vùng hàm trên, cằm không sưng nề bầm tím, không có sẹo: Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 không có chương mục nào quy định cho điểm tỷ lệ tổn hại sức khỏe đối với các chạm thương này;
+ Mẻ rìa cắn răng 1.1 có chỉ định điều trị bảo tồn - điều trị tủy: 01%
+ Nứt dọc thân răng 2.1 có chỉ định điều trị bảo tồn - điều trị tủy: 01%;
- Cơ chế hình thành thương tích: Các chạm thương và các thương tích do vật tày, tày có cạnh gây nên;
Tỷ lệ tổn hại sức khỏe cả hai lần giám định: 05% (Năm phần trăm).
Về vật chứng: Sau khi gây thương tích cho anh T1, T đã bẻ thanh sắt làm đôi. Tạm giữ của T: 01 thanh sắt hình tròn, dài 90cm, đường kính 01cm; 01 thanh sắt hình tròn, dài 50cm, đường kính 01cm có 01 đầu nhọn.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 120/2022/HS-ST ngày 25 tháng 07 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội đã áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng về tội “Cố ý gây thương tích”.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn T1 số tiền 32.000.000 đồng, được trừ vào số tiền 12.000.000 đồng bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Sóc Sơn theo Biên lai thu tiền số AA/2020/0004061 ngày 05/4/2022. Bị cáo còn phải bồi thường 20.000.000 đồng.
Ngoài ra bản án hình sự sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 04/08/2022 bị hại là anh Nguyễn Văn T1 có đơn kháng cáo về tội danh, hình phạt và mức bồi thường dân sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Về tố tụng, các cơ quan và người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định bị hại có đơn kháng cáo là hợp lệ đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo về hình thức. Về nội dung: Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội đã quyết định về tội danh, đánh giá toàn diện tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng về tội “Cố ý gây thương tích” và buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn T1 số tiền 32.000.000 đồng là có căn cứ, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị hại và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
- Bị hại anh Nguyễn Văn T1 trình bày: Hành vi của bị cáo dùng cây sắt tấn công là hành vi giết người không thành, do anh có sức khỏe đã bỏ chạy nên mới không gây ra hậu quả. Bị hại mặc dù đã xin lỗi nhưng chưa thành khẩn. Mức hình phạt cấp sơ thẩm đã tuyên cho bị cáo là chưa đủ sức răn đe. Về trách nhiệm dân sự: Yêu cầu bị cáo bồi thường tiếp 100 triệu do tổn hại sức khỏe, tinh thần, chi phí làm răng và hai tháng không lao động.
- Bị cáo Nguyễn Văn T trình bày: Công nhận bản án của Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử là đúng người, đúng tội. Bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã nộp số tiền còn phải bồi thường là 20.000.000 đồng và nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng tại Chi Cục thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án, các Cơ quan và người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định bị hại anh Nguyễn Văn T1 có làm đơn kháng cáo là hợp lệ, được chấp nhận về hình thức.
[2] Về tội danh và hình phạt:
- Về tội danh: Tại phiên tòa, bị hại giữ nguyên nội dung kháng cáo về tội danh cho rằng hành vi của bị cáo phạm tội giết người. Bị cáo công nhận bản án của Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Căn cứ lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm và tại phiên toà phúc thẩm; đối chiếu với lời khai của bị hại, người làm chứng, Biên bản vụ việc, vật chứng được thu giữ, sơ đồ hiện trường, Kết luận giám định pháp y thương tích và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, cũng như quá trình tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định: Khoảng 16 giờ ngày 01/12/2021, tại thôn PT, xã ĐX, huyện SS, thành phố Hà Nội, do mâu thuẫn từ việc tranh chấp phần đất lưu không giữa hai nhà, bị cáo Nguyễn Văn T đã cầm một thanh kim loại dài 1,4m (Đường kính 1cm, một đầu tròn, một đầu hơi nhọn) là hung khí nguy hiểm đâm liên tiếp theo hướng từ dưới lên trên trúng cánh tay phải, trúng răng và sượt qua đầu bên phải anh Nguyễn Văn T1 gây thương tích với tỷ lệ tổn hại sức khỏe là 05%. Người bị hại đã có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đủ yếu tố cấu thành tội cố ý gây thương tích. Bản án hình sự sơ thẩm số 120/2022/HS-ST ngày 25 tháng 07 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
- Về hình phạt: Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo; sau khi xem xét ý kiến của bị hại và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ như: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, xét thấy không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, nên cho bị cáo được hưởng biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện của chế định án treo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự.
Bản án hình sự sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng là có căn cứ, đúng pháp luật.
- Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bản án hình sự sơ thẩm buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn T1 gồm các khoản sau:
Chi phí viện phí, tiền thuốc có hóa đơn là 8.931.500 đồng. Chi phí đối với khoản tiền mất thu nhập của bị hại: Bị hại điều trị tại bệnh viện 10 ngày không lao động được, sau khi ra viện với thương tích 5% bị hại cần nghỉ ngơi thời gian 20 ngày để ổn định sức khỏe, vì vậy thời gian bị hại bị mất thu nhập khoảng 1 tháng. Xác minh tại địa phương, mức thu nhập bình quân của anh T1 từ khoảng 55.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng/năm. Vì vậy, buộc bị cáo phải bồi thường cho anh T1 thời gian nghỉ không lao động được là 5.000.000 đồng. Chi phí bồi thường tổn thất tinh thần: Anh T1 bị tổn hại sức khỏe là 5% nên buộc bị cáo bồi thường tiền tổn thất tinh thần tương ứng với 5 lần x 1.490.000đ = 7.450.000 đồng. Chi phí người chăm sóc trong thời gian khoảng 10 ngày (Trong và sau khi ra viện): Bị cáo phải bồi thường cho mất thu nhập của một người trong thời gian 20 ngày là 4.000.000 đồng. Chi phí ăn uống cho bị hại và 1 người chăm sóc bị hại trong thời gian nằm viện 10 ngày là 3.000.000 đồng. Chi phí đi lại của bị hại là 2.000.000 đồng.
Tổng số tiền bị cáo phải bồi thường là 30.381.500 đồng. Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo tự nguyện chấp nhận bồi thường cho bị hại tổng số tiền là 32.000.000 đồng. Bản án hình sự sơ thẩm đã ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo và T1 bị cáo phải bồi thường cho bị hại 32.000.000 đồng là phù hợp quy định pháp luật.
Trước khi xét xử sơ thẩm bị cáo Nguyễn Văn T đã nộp số tiền 12.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Sóc Sơn theo Biên lai thu tiền số AA/2020/0004061 ngày 05/4/2022. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn T đã nộp tiếp số tiền 20.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Sóc Sơn theo Biên lai thu tiền số AA/2020/0004258 ngày 05/8/2022. Hội đồng xét xử phúc thẩm xác nhận bị cáo Nguyễn Văn T đã hoàn thành trách nhiệm bồi thường dân sự theo quyết định của bản án hình sự sơ thẩm.
[4] Về án phí: Bị cáo, bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm, án phí dân sự phúc thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo xuất trình Biên lai thu tiền số AA/2020/0004257 ngày 05/8/2022 đã nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
[5] Về hiệu lực thi hành bản án: Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị hại, giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 120/2022/HS-ST ngày 25/07/2022 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội về tội danh, hình phạt, án treo và trách nhiệm bồi thường, cụ thể:
[1] Về tội danh và hình phạt:
tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày T1 án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Đông Xuân, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trong thời gian thử thách của án treo bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú được thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[2] Về trách nhiệm bồi thường: Giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 120/2022/HS-ST ngày 25/07/2022 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội buộc bị cáo bồi thường tổng số tiền là 32.000.000 (Ba mươi hai triệu) đồng. Xác nhận bị cáo Nguyễn Văn T đã hoàn thành trách nhiệm bồi thường theo quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm gồm: 12.000.000 (Mười hai triệu) đồng theo Biên lai thu tiền số AA/2020/0004061 ngày 05/4/2022 và 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng theo Biên lai thu tiền số AA/2020/0004258 ngày 05/8/2022 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Sóc Sơn.
[3] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo, bị hại không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm và án phí dân sự phúc thẩm.
Xác nhận bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tiền số AA/2020/0004257 ngày 05/8/2022.
[4] Về hiệu lực thi hành bản án: Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày T1 án.
| Nơi nhận: - TAND Cấp cao tại Hà Nội; - VKSND thành phố Hà Nội; - CQCSĐT huyện Sóc Sơn; - VKSND huyện Sóc Sơn; - TAND huyện Sóc Sơn; - CQTHADS huyện Sóc Sơn; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu hồ sơ./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Đức Hiếu |