vanban.org

Bản án 211/2022/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 03/06/2022 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 03/06/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng nghị số 2 QĐ-V S-DS ngày 2 1 2 22 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện V t nh Đồng Tháp.

Chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn . Sửa một phần bản án sơ thẩm.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng nghị số 2 QĐ-V S-DS ngày 2 1 2 22 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện V t nh Đồng Tháp.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

N N N N

CỘNG

XÃ ỘI C Ủ NG Ĩ VIỆ N M

ỈN ĐỒNG

P

Độc lập - ự do - ạnh phúc Bản án số: 211/2022/DS-PT

Ngày: 03 – 6 – 2022

V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG

XÃ ỘI C Ủ NG Ĩ VIỆ N M

TÒA N N N N ỈN ĐỒNG

P

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ng c Vạng.

Các Thẩm phán:

Ông Huỳnh Thanh Mỹ;

Ông Nguyễn Chí Dững.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bảo Quốc - Thư ký Tòa án nhân dân t nh Đồng Tháp.

- Đ i di n Vi n Ki m t nh n d n t nh Đồng Th p: Bà Nguyễn Bạch Nga - iểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong ngày 23/5/2022 và 3 6 2 22 tại trụ sở Tòa án nhân dân t nh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 50/2022/TLPT-DS ngày 16 tháng 02 năm 2 22, về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hợp đồng vay tài sản.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2022/DS-ST ngày 06 tháng 1 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện V bị kháng cáo kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 107/2022 QĐ-PT ngày 28 tháng 3 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

1.1. Ông Nguyễn Văn sinh năm 1969

1.2. Bà Phan Thị Ng c H sinh năm 1971

Cùng địa ch : ấp A xã Đ, huyện V t nh Đồng Tháp.

Đại diện theo ủy quyền của ông K và bà H: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1984; Địa ch : khóm B thị trấn L, huyện V t nh Đồng Tháp (Theo văn bản ủy quyền ngày 2 1 2 22). (Có mặt)

2. Bị đơn: Ông Chế Văn 1 sinh năm 1966; địa ch : ấp B, xã T, huyện V t nh Đồng Tháp.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Văn P sinh năm 1961; địa ch : ấp B, xã T, huyện V t nh Đồng Tháp. (Có mặt)

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ông Mai Thanh S sinh năm 1974; địa ch : ấp A xã Đ, huyện V t nh Đồng Tháp. (Vắng mặt)

3.2. Anh Mai Văn Chánh T sinh năm 1982; địa ch : ấp An xã Đ, huyện V t nh Đồng Tháp. (Vắng mặt)

3.3. Chị Phan Thị Anh Đ sinh năm 1989; địa ch : ấp A xã Đ, huyện V, t nh Đồng Tháp. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

4. Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn - à nguyên đơn trong vụ án.

5. háng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện V.

NỘI UNG VỤ N:

- Ông Nguyễn Văn T đại diện theo ủy quyền của Nguyễn Văn K và Phan Thị Ngọc H, trình bày: Ông Nguyễn Văn và bà Phan Thị Ng c H (vợ ông K) th a thuận vay tiền ông K1 nên ngày 09/6/2020 ông K1 kêu ông K đưa bản phô tô giấy chứng minh nhân dân của ông K, bà H và bản phô tô giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ) của thửa đất số 1 5 tờ bản đồ số 32 và thửa đất số 5 tờ bản đồ số 24 cho ông K1 để lập hợp đồng chuyển nhượng đất tại Văn phòng Công chứng Huỳnh Thị im . Sau đó ông Nguyễn Thanh P viết Tờ th a thuận ngày 9 6 2 2 với nội dung: Ông K, bà H có cầm 2 giấy chứng nhận QSDĐ của 2 thửa đất nói trên cho ông K1 với hình thức hợp đồng mua bán; Nếu trong thời gian 9 ngày kể từ ngày 9 6 2 2 ông K không trả lại số tiền 1.6 . . đồng cộng lãi thì ông K1 có quyền sang tên và sở hữu 2 thửa đất nói trên; Nếu trong thời gian 9 ngày kể từ ngày 09/6/2020, ông K trả lại số tiền 1.6 . . đồng cộng lãi thì ông K1 phải có trách nhiệm trả lại (hủy) hợp đồng mua bán đất.

Việc ký Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 9 6 2 2 để nhằm đảm bảo cho ông K vay tiền nhưng thời điểm này ông K1 chưa có giao tiền cho ông K. Đến khoảng 1 giờ cùng ngày ông K1 g i điện thoại cho ông K kêu qua thành phố C nhận số tiền 75 . . đồng. hoảng 16 giờ cùng ngày ông K đưa bản chính 2 giấy chứng nhận QSDĐ cho ông K1 giữ. Tờ th a thuận ngày 9 6 2 2 có ghi “1.6 . . đồng cộng lãi” không ghi lãi suất là bao nhiêu nhưng ông P và ông K1 có nói miệng là lãi suất 3% tháng 1.6 . . đồng.

Đối với lời khai của ông Nguyễn Văn T ngày 06/11/2020 và ông K ngày 10/3/2021 là do không nhớ rõ và có sự nhầm l n nên mới khai số tiền đã nhận theo Hợp đồng chuyển nhượng và Tờ th a thuận gồm: Ngày 09/6/2020 là 85 . . đồng; ngày 16 6 2 2 là 75 . . đồng và lần cuối là 4 . . đồng (không nhớ ngày tháng). Nay ông K xác định biên nhận đề ngày 9 6 2 2 với số tiền 75 . . đồng biên nhận đề ngày 12 6 2 2 với số tiền 7 . . đồng và biên nhận đề ngày 13 6 2 2 với số tiền 15 . . đồng là tiền vay theo Hợp đồng chuyển nhượng và Tờ th a thuận ngày 09/6/2020.

Đối với các biên nhận ngày 13 6 2 2 số tiền 4 . . đồng ngày 6 8 2 2 số tiền 38 . . đồng và ngày 24 8 2 2 số tiền 8 . . đồng là vay sau này không có liên quan đến số tiền trong Hợp đồng chuyển nhượng và Tờ th a thuận. Riêng Biên nhận ngày 24 8 2 2 có ghi nội dung “Đtrả trước 2. . (Hai triệu)” là do ông K viết và đây là số tiền ông K trả tiền lãi trước cho số tiền vay 8 . . đồng. Đồng thời theo biên nhận thể hiện ngày 13/6/2020 vay 4 . . đồng và ngày 13 6 2 2 vay 150.000.000 đồng nhưng là vay 2 ngày khác nhau. Vì phía dưới ngày âm lịch là ông K ghi. Theo đó Biên nhận với số tiền 4 . . đồng là vay ngày 22/4/2020 âm lịch còn biên nhận với số tiền 15 . . đồng là vay ngày 11/4/2020 âm lịch.

Ngày 13/7/2020, ông K1 đến nhà ông K nhận số tiền tổng cộng 1.2 . . đồng (trong đó 1.1 . . đồng trả nợ gốc và 1 . . đồng trả lãi). Việc giao nhận tiền thì ông K1 có viết Biên nhận ngày 13/7/2020. Ông K xác định Biên nhận ngày 13 7 2 2 là trả cho các khoản vay ngày 9 6 2 2 số tiền 75 . . đồng; ngày 12 6 2 2 số tiền 7 . . đồng; ngày 13 6 2 2 số tiền 4 . . đồng; ngày 13 6 2 2 số tiền 15 . . đồng. Đồng thời ông K có yêu cầu ông K1 phải ghi rõ vào biên nhận trả cho khoản vay 1.6 . . đồng theo Tờ th a thuận và Hợp đồng chuyển nhượng. Tuy nhiên do ông K1 lúc đó đã có uống rượu và ông K1 nói không nhớ các ngày vay của 4 biên nhận nên ghi gộp lại chung. Nguyên nhân ông K chưa trả cho ông K1 xong số tiền còn lại nhưng tiếp tục vay thêm 3 lần là do ông K1 cho vay với lãi suất cao hơn để hưởng lợi.

Trên thực tế thửa đất số 5 thì vào tháng 02/2020 ông K cho anh Nguyễn Cao C thuê với thời hạn 2 năm. Tuy nhiên, sau khi san lắp cát thì phát sinh tranh chấp ranh với anh Mai Văn Chánh T, nên ông K mới đổi nền khác cho anh C thuê.. Hiện nay thửa đất này đang tranh chấp ranh giới QSDĐ với anh T và chị Phan Thị Anh Đ. Đối với thửa đất số 1 5 thì cho ông Mai Thanh S thuê vào khoảng tháng 6 2 16, thời hạn thuê 5 năm để kinh doanh. Nay ông K và bà H yêu cầu như sau:

- Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 9 6 2 2 vô hiệu do giả tạo. Ông K1 trả lại 2 bản chính giấy chứng nhận QSDĐ.

- Đối với các khoản vay ngày 9 6 2 2 với số tiền 75 . . đồng; ngày 12/6/202 với số tiền 7 . . đồng; ngày 13 6 2 2 với số tiền 15 . . đồng. Sau khi khấu trừ tiền đã trả nợ gốc là 1.1 . . đồng và lãi 1 . . đồng theo quy định, tiền trả lãi còn thừa thì cấn trừ tiếp vào nợ gốc. Số tiền còn lại tính lãi suất là 1 % năm đến ngày xét xử sơ thẩm.

- Đối với số tiền vay ngày 13 6 2 2 với số tiền 4 . . đồng; ngày 6 8 2 2 với số tiền 38 . . đồng; ngày 24 8 2 2 với số tiền 8 . . đồng. Tổng cộng là 5 . . đồng tính lãi suất là 1 % năm từ ngày vay đến ngày xét xử sơ thẩm.

Ông K, bà H đều thống nhất với Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 11/12/2020; sơ đồ đo đạc ngày 1 3 2 21, ngày 20/5/2021 và kết quả định giá tài sản ngày 11 3 2 21

- Ông Chế Văn K1 trình bày: Ông K1 cho ông K vay tiền là do ông Nguyễn Thanh P giới thiệu. Đồng thời, ông K có th a thuận chuyển nhượng cho ông K1 2 thửa đất số 1 5 và số 5, giá là 1.6 . . đồng. Tuy nhiên, do ông K còn nợ tiền Ngân hàng TMCP X - Chi nhánh Đồng Tháp - Phòng giao dịch S, nên ông K mới h i vay của ông K1 số tiền 75 . . đồng trả tiền cho Ngân hàng và rút 2 giấy chứng nhận QSDĐ ra chuyển nhượng cho ông K1. Lý do ông K bán đất là để gom tiền mua lại thửa đất ở gần cầu Bà Đ để phân nền ra bán.

Ngày 09/6/2020, ông K1 giao cho ông K 75 . . đồng tại Ngân hàng, thời hạn vay 3 ngày lãi suất là 2 5% tháng. Ngân hàng đề nghị ông K nhận lại 2 giấy chứng nhận tại Ngân hàng TMCP X - Chi nhánh Đồng Tháp và cùng ngày 9 6 2 2 Ngân hàng giao trả 2 giấy chứng nhận thì ông K đưa cho ông K1 giữ. Ông K1 yêu cầu ông K đến quán cà phê ương D để nhận số tiền 1.6 . . đồng và cùng đến Văn phòng công chứng Huỳnh Thị im ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Khoảng từ 1 giờ đến 1 giờ 3 phút ông K1 đến quán cà phê ương D và ngồi chung bàn của ông Nguyễn Văn D ông Nguyễn Thành và bà Nguyễn Thị Bé B (do ông K1 đã có hẹn trước với h ). úc này ông L mang số tiền 1. . . đồng đựng trong cái b c màu đen ra trả cho ông K1. Khi ông K chạy xe đến quán cà phê ương D và ngồi cách bàn của ông Diếp ông L và bà Bảy một cái bàn thì ông K1 mở cốp xe lấy thêm thêm tiền đựng trong cái b c màu đen để trả tiền cho ông K. Ông K1 đưa b c tiền của ông L vừa trả cho ông K kiểm tra trước còn b c tiền mà ông K1 lấy ở cốp xe 6 . . đồng thì đưa cho ông K kiểm tra sau và cùng ký hợp đồng tại phòng công chứng. Theo Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 9 6 2 2 ông K, bà H chuyển nhượng cho ông K1 thửa đất số 1 5 diện tích 117 6m2; thửa đất số 5 diện tích 3 1 1m2. Việc ông K1 giao 1.6 . . đồng nhưng không có làm biên nhận là do ông K1 nghĩ đã giữ 2 giấy chứng nhận và hợp đồng thể hiện phương thức thanh toán là trả một lần bằng tiền mặt khi ký hợp đồng được công chứng.

Ông K1 cho rằng ông K có nguyện v ng được mua lại 2 thửa đất nên ông K đã đề nghị ông K1 điều kiện là nếu trong thời gian 9 ngày kể từ ngày 09/6/2020, ông K không trả lại số tiền 1.6 . . đồng và lãi suất 2,5%/tháng, thì ông K, bà H sẽ tiếp tục hoàn tất thủ tục chuyển nhượng sang tên cho ông K1; nếu trả đủ 1.600.00 . đồng và tiền lãi nêu trên thì ông K1 đồng ý ký hợp đồng chuyển nhượng lại 2 thửa đất cho ông K, bà H. Ông P cũng giải thích và đề nghị ông K1 xem xét cho ông K một cơ hội để mua lại 2 thửa đất và ông K1 tin tưởng nên sau khi ông P lập tờ th a thuận xong thì ông K1 ký tên mà không có đ c lại nội dung.

Ngày 12/6/2020, ông K1 cho ông K vay tiếp 7 . . đồng sáng ngày 13/6/2020 vay 15 . . đồng và chiều cùng ngày 13 6 2 2 vay 4 . . đồng. Thời hạn vay là 3 ngày lãi suất là 2 5% tháng.

Ngày 13/7/2020, ông K trả cho ông K1 1.1 . . đồng tiền nợ gốc và 1 . . đồng tiền nợ lãi. Ngày 06/8/2020, ông K vay 38 . . đồng và ngày 24/8/2020 ông K vay 8 . . đồng. thời hạn vay 30 ngày, lãi suất 2 5% tháng. Đối với nội dung biên nhận có ghi “Đtrả trước 2. . (Hai triệu)” là do ông K viết. Do trong túi ông K còn có số tiền 2. . đồng nên ông K đưa ông K1 nói trả tiền lãi của số tiền vay 8 . . đồng trước luôn. Ông K1 không nhớ biên nhận được lập tại đâu và giao nhận tiền tại đâu nhưng các lần giao tiền thường ở các quán cà phê.

Ông K1 v n tiếp tục cho ông K vay tiền là do đã trả được vốn là 1.1 . . đồng và lãi 1 . . đồng. Nay ông K1 yêu cầu như sau:

- Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 9 6 2 2 .

- Nếu Hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu thì yêu cầu ông K, bà H bồi thường thiệt hại cho ông K1 theo quy định của pháp luật.

- Buộc ông K trả cho ông K1 vốn lãi và áp dụng mức lãi suất 1 66% tháng trong 6 lần vay gồm: vốn là 927.224. đồng và lãi là 269.377.886 đồng. Cụ thể: ần 1: 75 . . đồng x 1 66% x 1 tháng (từ ngày 9 6 2 2 đến 13 7 2 2 ) = 12.45 . đồng; lần 2: 7 . . đồng x 1,66% x 1 tháng (từ ngày 12 6 2 2 đến 13/7/202 ) = 11.62 . đồng; lần 3: 15 . . đồng x 1 66% x 1 tháng (từ ngày 13 6 2 2 đến 13 7 2 2 ) = 2.49 . đồng; ần thứ 4: 4 . . đồng x 1 66% x 1 tháng (từ ngày 13 6 2 2 đến 13 7 2 2 ) = 664. đồng. Tổng cộng nợ gốc là 1.64 . . đồng nợ lãi là 27.224. đồng. Ngày 13/7/2020, ông K đã trả nợ gốc 1.1 . . đồng và nợ lãi 1 . . đồng nên số tiền nợ gốc còn lại là 467.224. đồng x 1 66% x 18 6 tháng (từ ngày 14 7 2 2 đến 6/01/2022) = 14 . 71.886 đồng; lần 5: 38 . . đồng x 1 66% x 17 3 tháng (từ ngày 6 8 2 2 đến 6 1 2 22) = 1 9.128.4 đồng; lần 6: 8 . . đồng x 1,66% x 16 7 tháng (từ ngày 24 8 2 2 đến 6 1 2 22) - 2. . đồng = 2 .177.6 đồng.

Ông K1 thống nhất với biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 11/12/2020; sơ đồ đo đạc ngày 1 3 2 21 và ngày 20/5/2021. Về giá trị đất thì yêu cầu thực hiện theo Chứng thư thẩm định giá ngày 3 3 2 21.

- Ông Mai Thanh S trình bày: Vào năm 2 17 ông S có thuê thửa đất số 105 của ông K để mở tiệm bán cơm và cà phê thời hạn thuê là 5 năm giá thuê mỗi năm là 15. . đồng. Ông S không có yêu cầu hay tranh chấp gì trong vụ án này.

- Ông Mai Văn Chánh T trình bày: Tòa án giải quyết xong vụ việc tranh chấp ranh giữa anh T với ông Nguyễn Văn tức là xác định ranh giới rõ ràng và ranh giới thửa đất của anh T với thửa đất của ông K đã được giải quyết bằng vụ án trước đây đã được thi hành án xong. Ngoài ra, anh T không có ý kiến gì trình bày thêm.

- Chị Phan Thị Anh Đ trình bày: Chị Phan Thị Anh Đ đề nghị Tòa án giải quyết xong vụ việc tranh chấp ranh giữa chị Đài với ông Nguyễn Văn . Sau đó ông K và bà Phan Thị Ng c H có chuyển nhượng QSDĐ đối với thửa đất của ông K, bà H thì thực hiện theo quy định của pháp luật. Ngoài ra chị Đài không có ý kiến gì trình bày thêm.

- Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện V đã quyết định:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn và bà Phan Thị Ng c H về việc yêu cầu tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 09 6 2 2 vô hiệu.

2. hông chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Chế Văn 1 về việc yêu cầu công nhận Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 9 6 2 2 có hiệu lực.

3. Chấp nhận yêu cầu của ông Chế Văn 1 về việc yêu cầu giải quyết hậu quả của việc tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 9 6 2 2 vô hiệu và yêu cầu phản tố về hợp đồng vay tài sản.

Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 9 6 2 2 giữa ông Nguyễn Văn , bà Phan Thị Ng c H với ông Chế Văn 1 vô hiệu.

Buộc ông Nguyễn Văn và bà Phan Thị Ng c H có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Chế Văn 1 số tiền 1.6 . . đồng (Một tỷ sáu trăm triệu đồng) và bồi thường thiệt hại cho ông Chế Văn 1 số tiền 79.96 . đồng (Bảy mươi chín triệu chín trăm sáu mươi nghìn đồng).

Buộc ông Chế Văn 1 hoàn trả cho ông Nguyễn Văn và bà Phan Thị Ng c H bản chính Giấy chứng nhận QSDĐ số bìa CN 976 66 số vào sổ CS 752 đối với thửa đất số 1 5 tờ bản đồ số 32 do ông Nguyễn Văn đứng tên QSDĐ được Sở Tài nguyên và Môi trường t nh Đồng Tháp cấp ngày 4 7 2 18 và Giấy chứng nhận QSDĐ số bìa CN 9 6917 số vào sổ CS 7526 đối với thửa đất số 5 tờ bản đồ số 24 do ông Nguyễn Văn đứng tên QSDĐ được Sở Tài nguyên và Môi trường t nh Đồng Tháp cấp ngày 05/7/2018.

Buộc ông Nguyễn Văn có nghĩa vụ trả cho ông Chế Văn 1 số tiền vay nợ gốc là 927.224. đồng (Chín trăm hai mươi bảy triệu hai trăm hai mươi bốn nghìn đồng) và số tiền nợ lãi là 269.377.886 đồng (Hai trăm sáu mươi chín triệu ba trăm bảy mươi bảy nghìn tám trăm tám mươi sáu đồng). Tổng cộng tiền nợ gốc và nợ lãi là 1.196.6 1. đồng (Một tỷ một trăm chín mươi sáu triệu sáu trăm lẻ một nghìn đồng).

ể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2 15 trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Về án phí và tạm ứng án phí:

- Ông Chế Văn 1 phải chịu 3 . đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm được khấu trừ với số tiền 3 . đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà ông K1 đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số BI 2 19 9738 ngày 3 11 2 2 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện V t nh Đồng Tháp. Ông K1 đã thực hiện xong.

- Ông Nguyễn Văn và bà Phan Thị Ng c H phải chịu 3.998. đồng (Ba triệu chín trăm chín mươi tám nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm được khấu trừ với số tiền 3 . đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà ông K và bà H đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số BI 2 19 9616 ngày 7 1 2 2 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, t nh Đồng Tháp. Ông K và bà H còn phải nộp tiếp số tiền 3.698. đồng (Ba triệu sáu trăm chín mươi tám nghìn đồng).

- Ông Nguyễn Văn phải chịu 47.898. đồng (Bốn mươi bảy triệu tám trăm chín mươi tám nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

- Hoàn trả cho ông Chế Văn 1 số tiền 22.575. đồng (Hai mươi hai triệu năm trăm bảy mươi lăm nghìn) mà ông K1 đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số BI 2 19 13932 ngày 2 3 2 21 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện V t nh Đồng Tháp.

5. Về chi phí tố tụng và tạm ứng chi phí tố tụng:

- Ông Chế Văn 1 phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 1. . đồng (Một triệu đồng) và chi phí đo đạc là 1.771. đồng (Một triệu bảy trăm bảy mươi mốt nghìn đồng). Tổng cộng là 2.771. đồng (Hai triệu bảy trăm bảy mươi mốt nghìn đồng).

Buộc ông Chế Văn 1 có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Nguyễn Văn và bà Phan Thị Ng c H số tiền 2.771. đồng (Hai triệu bảy trăm bảy mươi mốt nghìn đồng).

- Ông Nguyễn Văn và bà Phan Thị Ng c H phải chịu chi phí thẩm định giá tổng cộng là 1 .2 . đồng (Mười triệu hai trăm nghìn đồng).

Buộc ông Nguyễn Văn và bà Phan Thị Ng c H có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Chế Văn 1 số tiền 9.9 . đồng (Chín triệu chín trăm nghìn đồng).

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền và thời hạn kháng cáo của các đương sự quyền và nghĩa vụ của người được thi hành án người phải thi hành án thời hiệu thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.

- Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 14/01/2022 ông Nguyễn Văn kháng cáo yêu cầu hủy án sơ thẩm. Nếu không hủy án thì tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng đất vô hiệu do giả tạo; ông K đồng ý trả vốn cho ông K1 một tỷ đồng và lãi theo quy định của số tiền này.

- Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện V kháng nghị đề nghị Tòa án nhân dân t nh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng sửa một phần bản án sơ thẩm.

- Tại phiên tòa phúc thẩm:

+ Ông Nguyễn Văn T trình bày: Tòa án cấp sơ thẩm xác định hợp đồng vô hiệu chưa đúng bản chất của giao dịch vì đây là hợp đồng giả tạo. Ông K1 có lời khai ban đầu cho rằng việc vay tiền không có người làm chứng. Nay ông K, bà H đồng ý trả vốn 1 tỷ đồng và lãi theo quy định.

Ông Bùi Văn Phương trình bày: Yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.

+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân t nh Đồng Tháp ý kiến về giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến tại phiên tòa phúc thẩm Thẩm phán Hội đồng xét xử Thư ký và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2 15.

Về nội dung: Tờ th a thuận ngày 9 6 2 2 thể hiện nội dung là cầm giấy chứng nhận QSDĐ. Ông P giới thiệu cho ông K vay tiền của ông K1. Hợp đồng là xác lập th a thuận còn giao tiền là phải thể hiện việc giao nhận. hi giao số tiền 1 6 tỷ đồng thì không lập biên nhận nhưng giao số tiền ít hơn lại có biên nhận là không hợp lý. Nhân chứng không biết rõ việc mua đất và lời khai mâu thu n nhau. Do đó không có căn cứ chứng minh ông K1 đưa tiền một lần cho ông K là 1 6 tỷ đồng. Đề nghị chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát huyện V chấp nhận kháng cáo của ông K. Sửa một phần bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa.

N ẬN ĐỊN CỦ

N:

1 Vợ chồng ông K khởi kiện đối với ông K1 về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ vô hiệu do giả tạo liên quan đến hợp đồng vay tài sản. Tòa án huyện V thụ lý giải quyết vụ án dân sự là phù hợp quy định của pháp luật. Ông K, bà H ủy quyền cho ông Nguyễn Văn Trung ông K1 ủy quyền cho ông Bùi Văn P thủ tục phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận.

[2] Vợ chồng ông K cho rằng có h i vay tiền của ông K1 1 6 tỷ đồng nhưng ông K1 yêu cầu phải lập hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ của ông K cho ông K1 để bảo đảm trả nợ nên ngày 9 6 2 2 vợ chồng ông K mới lập hợp đồng chuyển nhượng diện tích 419 7m2 giá 1 6 tỷ đồng (hợp đồng giao ông K1 giữ) và cùng ngày 9 6 2 2 ông K1 ký Tờ th a thuận với nội dung là ông K có cầm giấy chứng nhận cho ông K1 với hình thức hợp đồng mua bán. Nếu trong thời hạn 9 ngày ông K không trả 1 6 tỷ đồng cộng tiền lãi thì ông K1 có quyền sang tên QSDĐ trên (Tờ th a thuận giao ông K giữ). Việc th a thuận nêu trên nhằm bảo đảm các khoản vay ngày 9 6 2 2 số tiền 75 triệu đồng ngày 12 6 2 2 số tiền 7 triệu đồng ngày 13 6 2 2 số tiền 15 triệu đồng. Tổng cộng 1 6 tỷ đồng. Ngày 13 7 2 2 ông K trả vốn 1 1 tỷ đồng lãi 1 triệu đồng.

Sau đó ông K vay tiếp vào ngày 13 6 2 2 số tiền 4 triệu đồng ngày 6 8 2 2 số tiền 38 triệu đồng ngày 24 8 2 2 số tiền 8 triệu đồng (khi nhận 8 triệu đồng có trừ tiền trả lãi trước là 2 triệu đồng). Tổng cộng 500 triệu đồng này không liên quan đến tờ th a thuận ngày 9 6 2 2 . Các khoản vay lãi suất 3 % tháng thời hạn vay 1 tháng. Ông K yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu do giả tạo và áp dụng mức lãi suất 2 % năm tính lãi từ ngày vay đến xét xử sơ thẩm cụ thể như sau: Đối với 1 6 tỷ đồng theo biên nhận ngày 9 6 2 2 ngày 12 6 2 2 ngày 13 6 2 2 sau khi trừ tiền lãi vào số tiền đã trả lãi 1 triệu đồng thì tiền trả lãi còn thừa cộng với số tiền 1 1 tỷ đồng để trừ vào vốn gốc. Đối với 3 khoản vay còn lại tính lãi theo quy định của pháp luật.

Ông K1 không thừa nhận hợp đồng chuyển nhượng đất là để bảo đảm tiền vay như trình bày của ông K vì việc chuyển nhượng không liên quan đến số tiền cho ông K vay. Việc chuyển nhượng đất đã thanh toán 1 6 tỷ đồng cho ông K tại quán cà phê ương D ngày 9 6 2 2 và được thể hiện trong hợp đồng chuyển nhượng đồng thời có ông L, ông D bà B chứng kiến. Đối với tờ th a thuận ghi nội dung ông K cầm giấy chứng nhận là do ông K1 không có đ c lại khi ký tên. Nay yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng. Tiền vay theo thuận lãi suất 2 5% tháng nhưng nay yêu cầu tính lãi theo quy định.

3 Nhận thấy ông K và ông K1 quen biết nhau là do ông K1 là người cho vay, khi ông K1 giao tiền đều yêu cầu ông K viết biên nhận để làm căn cứ chứng minh đã giao nhận tiền. Việc ông K1 cho rằng ông K đã nhận đủ tiền chuyển nhượng đất được ghi trong hợp đồng là không có cơ sở. Vì theo hợp đồng công chứng ngày 9 6 2 2 thể hiện ông K, bà H chuyển nhượng cho ông K1 diện tích 117 6m2 và 3 1 1m2 với phương thức thanh toán trả một lần bằng tiền mặt khi ký hợp đồng được công chứng và việc thanh toán ngoài sự chứng kiến của công chứng viên chứ không có ghi là đã trả đủ tiền.

Xét đối với lời khai của nhân chứng: Tại biên bản lấy lời khai 11/3/2021, ông P khai là có giới thiệu cho ông K vay tiền của ông K1 1 6 tỷ đồng. Việc giao tiền vay như sau: ần 1 tại quán cà phê phía trước cơ quan công chứng giao 85 triệu đồng (sau khi công chứng và có ông P chứng kiến); lần 2 nghe nói là giao 6 triệu đồng; lần 3 ông P nhận tiền giùm ông K 15 triệu đồng nhưng biên nhận do ông K ký tên. Tại biên bản lấy lời khai ngày 17/12/2020, ông Nguyễn Thành khai là Ngân hàng giải ngân tiền cho ông vào ngày 9 6 2 2 và cùng ngày ông có uống cà phê với ông K1, ông D, bà B tại quán ương D có nghe ông K1 nói giao tiền để mua hai miếng đất và ông có thấy ông K1 giao tiền cho một người nhưng ông không biết tên gồm 1 b c ni lon màu đen có số tiền 1 tỷ đồng của ông Nguyễn Thành đưa cho ông K1 và một b c màu đen được lấy từ cốp xe của ông K1 nhưng tại biên bản lấy lời khai ngày 17 5 2 22 thì ông L khai nguồn tiền ông trả cho ông K1 là của người em rể tên ê Nhật ong trả 6 triệu và một số người khác rút tiền từ Ngân hàng trả cho ông Nguyễn Thành L 4 triệu đồng vào ngày 9 6 2 2 . Ông D khai ông có làm ăn với ông K1 và có biết mặt ông K một lần do đi cùng với ông K1 để đòi nợ ông K nhưng không có tiếp xúc với ông K. Ông D có nghe ông K1 nói giao tiền để mua hai miếng đất của ông K và thấy ông K1 giao cho ông K một b c tiền của ông Nguyễn Thành và một b c tiền do ông K1 lấy ra từ cốp xe nhưng không biết số tiền là bao nhiêu và thấy ông K kiểm tiền. Bà B khai, ông K1 hẹn bà đến quán cà phê ương D để nhận 2 triệu đồng của ông K1 cho vay và bà B cũng thấy ông K1 đưa tiền cho một người đàn ông (không biết tên) như trình bày của ông Nguyễn Thành . Theo bà B khai là sau khi người đàn ông đó b đi thì ông K1 mới quay trở lại nói với ông L, ông D, bà B là vừa mua được miếng đất của ông K 1 6 tỷ đồng.

Qua đó cho thấy hợp đồng chuyển nhượng hoàn toàn không thể hiện ông K đã nhận đủ tiền; tờ th a thuận được lập ngay sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng và nội dung xác định rõ không có việc giao dịch chuyển nhượng đất đồng thời ông K1 cũng không có khiếu nại sau khi ký tờ th a thuận. Nhân chứng trình bày không rõ ràng mâu thu n trong lời khai và lời khai của các nhân chứng không khớp nhau. Mặt khác ông L, bà B không biết mặt ông K và khi ông K1 tiếp xúc với người mà ông K1, ông D cho là ông K thì vị trí ngồi cách xa (khoảng 5m đến 6m) bàn của ông L, ông D, bà B đang ngồi uống cà phê. Đặc biệt là các nhân chứng đều thừa nhận không biết ông K1 giao số tiền là bao nhiêu mục đích giao tiền để làm gì và những nhân chứng là người vay tiền của ông K1 và lời khai ban đầu của ông K1 thừa nhận là việc giao tiền không có nhân chứng (Biên bản lấy lời khai ngày 23/10/2020). Tòa án cấp phúc thẩm đã giao giấy triệu tập cho ông T và ông P tống đạt cho các nhân chứng để lấy lời khai và đối chất lời khai nhưng nhân chứng không hợp tác nên không thực hiện được. Vì vậy lời khai của nhân chứng tại cấp sơ thẩm không bảo đảm sự thật khách quan theo quy định của pháp luật. Trong khi đó ông K không thừa nhận có mặt tại quán cà phê ương D và không có nhận tiền như lời khai của nhân chứng. Như vậy thực tế ông K1 đưa cho ông K 75 triệu đồng để trả nợ Ngân hàng vào ngày 9 6 2 2 và lấy giấy chứng nhận làm hợp đồng chuyển nhượng đất. Sau đó đưa tiếp vào ngày 12 6 2 2 là 7 triệu đồng; ngày 13 6 2 2 là 15 triệu đồng. Vậy hợp đồng chuyển nhượng là để bảo đảm cho 3 khoản vay là 1 6 tỷ đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm ông P không cung cấp được chứng cứ mới để chứng minh ông K nhận 1 6 tỷ đồng ngay buổi sáng ngày 9 6 2 2 nên ông K kháng cáo cho rằng hợp đồng chuyển nhượng giả tạo là có cơ sở.

[4] Đối với hợp đồng vay: Tại phiên tòa phúc thẩm ông T đồng ý tính lãi tiền vay mức lãi suất 2 % năm ông K đồng ý trả vốn 1 tỷ đồng và tính lãi theo quy định. Nhận thấy Tòa án cấp sơ thẩm tính tiền lãi từ ngày vay đến ngày 13 7 2 2 cho các khoản vay ngày 9 6 2 2 số tiền 75 triệu đồng ngày 12 6 2 2 số tiền 7 triệu đồng ngày 13 6 2 2 số tiền 15 triệu đồng và 13 6 2 2 số tiền 4 triệu đồng (vay thêm trước ngày trả lãi) sau khi trừ tiền lãi phải trả vào số tiền đã trả lãi 1 triệu đồng thì tiền trả lãi còn thừa cộng với số tiền 1 1 tỷ đồng trừ vào vốn gốc. Tiền vốn vay còn lại sau khi khấu trừ nêu trên và các khoản vay ngày 6 8 2 2 số tiền 38 triệu đồng ngày 24 8 2 2 số tiền 8 triệu đồng được tính lãi đến ngày xét xử sơ thẩm. Tổng số tiền vốn lãi mà ông K1, bà H phải trả là 1.196.6 1. đ là có căn cứ pháp luật.

[5] Đại diện Viện kiểm sát T nh đề nghị chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện V chấp nhận kháng cáo của ông K và sửa một phần bản án sơ thẩm là có cơ sở chấp nhận.

Do đó chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát huyện V; chấp nhận kháng cáo của ông K. Sửa một phần bản án sơ thẩm.

[6] Ông K1 yêu cầu ông K thực hiện chuyển nhượng đất có giá trị 1.679.96 . đ (1 6 tỷ đồng và 79.96 . đ) không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 62.398.8 đ và chịu chi phí tố tụng theo quy định.

Ông K không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.

Các phần khác không có kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên;

U

ĐỊN :

Căn cứ khoản 3 Điều 26 khoản 1 Điều 35 Điều 147 148 228 271 khoản 2 Điều 3 8 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2 15. Điều 124 357 463 466 468 của Bộ luật dân sự năm 2 15. hoản 1 Điều 26 khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326 2 16 UBTVQH14 ngày 3 12 2 16 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận kháng nghị số 2 QĐ-V S-DS ngày 2 1 2 22 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện V t nh Đồng Tháp.

Chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn .

Sửa một phần bản án sơ thẩm.

2. Chấp nhận một phần yêu cầu của ông Nguyễn Văn và bà Phan Thị Ng c H.

Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 9 6 2 2 giữa ông Nguyễn Văn , bà Phan Thị Ng c H với ông Chế Văn 1 vô hiệu do giả tạo.

Buộc ông Chế Văn 1 trả cho ông Nguyễn Văn và bà Phan Thị Ng c H bản chính Giấy chứng nhận QSDĐ số bìa CN 976 66 số vào sổ CS 752 thửa đất số 1 5 tờ bản đồ số 32 cấp cho ông Nguyễn Văn ngày 04/7/2018 và Giấy chứng nhận QSDĐ số bìa CN 9 6917 số vào sổ CS 7526 thửa đất số 5 tờ bản đồ số 24 cấp cho ông Nguyễn Văn ngày 05/7/2018.

Buộc ông Nguyễn Văn trả cho ông Chế Văn 1 số tiền là 1.196.6 1. đồng (Một tỷ một trăm chín mươi sáu triệu sáu trăm lẻ một nghìn đồng).

ể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2 15 trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Về án phí:

- Ông Nguyễn Văn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm 47.898. đồng.

- Ông Chế Văn 1 phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm 62.398.000 đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng và 22.575.000 đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí ngày 3 11 2 2 , ngày 2 3 2 21 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện V t nh Đồng Tháp. Vậy còn phải nộp tiếp 39.523.000 đồng.

4. Về chi phí tố tụng:

- Ông Chế Văn K1 phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 1. . đồng và chi phí đo đạc là 1.771. đồng. Tổng cộng là 2.771.000 đồng. Buộc ông Chế Văn 1 có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Nguyễn Văn và bà Phan Thị Ng c H số tiền 2.771. đồng.

- Ông Chế Văn 1 phải chịu chi phí thẩm định giá tổng cộng là 1 .2 . đồng. Ông K1 đã tạm ứng 9.9 . đồng. Vậy buộc ông K1 trả lại cho ông Nguyễn Văn 300.000 đồng (ông K đã tạm ứng).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 uật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án người phải thi hành án có quyền th a thuận thi hành án yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6 7 7a 7b và 9 uật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 3 uật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ