- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn văn ngọc g - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 211/2020/HS-ST Ngày 27-7-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN - TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Tố Uyên.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Ngọc Hồng
Ông Nguyễn Đức Nhuận
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Trung Tín là Thƣ ký Tòa án nhân dân
thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình
Dương tham gia phiên tòa: Ông Mai Chiến Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thuận
An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 196/TLST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 207/2020/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn N (tên gọi khác: Đạt), sinh ngày 27/11/2001 tại tỉnh A; hộ
khẩu thƣờng trú: Ấp P, xã P1, huyện P2, tỉnh A; tạm trú: Khu phố Đông Ba, phƣờng Bình Hòa, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1981; bị cáo chƣa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 10/3/2020, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Hồ Hữu P3, sinh năm 1989; địa chỉ thƣờng trú: Xóm x, xã
N, huyện N1, tỉnh N2; tạm trú: Phƣờng Bình Hòa, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, có yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Thập Thanh N4, sinh năm 1976; địa chỉ: Ấp Phƣớc Nhơn, xã X1,
huyện N5, tỉnh N6; vắng mặt.
+ Ông Lê Kim N7, sinh năm 1983; địa chỉ: Phƣờng Bình Hòa, thành phố
Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Nguyễn Văn N và Trần Xuân T4 là bạn quen biết và thƣờng chơi điện tử với nhau. Khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 06/3/2020, sau khi Nguyễn Văn N, Trần Xuân T4 đi chơi điện tử về đến phòng trọ của N thuê tại địa chỉ số 005, khu phố Đông Ba, phƣờng Bình Hòa, thị xã (nay là thành phố) Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng thì phát hiện tại hành lang khu nhà trọ có 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave RSX, biển số 85C1 – 297.66, màu đỏ đen, đang dựng trƣớc phòng trọ số 4 và không có ngƣời trông coi nên N rủ T4 lấy trộm chiếc xe trên thì T4 đồng ý. N nói T4 đẩy xe trên ra ngoài để N bẻ ổ khóa xe rồi cùng đem đi bán. T4 đồng ý và đến đẩy xe ra ngoài phía cổng khu trọ để N mở ổ khóa nhƣng N không mở đƣợc nên N nói T4 dắt chiếc xe dựng lại vào vị trí cũ. Sau khi T4 dựng chiếc xe vào vị trí cũ thì T4 nói với N “Đã đẩy xe ra mở ổ khóa rồi, camera có quay lại rồi, đường nào cũng bị bắt, để tôi đẩy xe ra cho”. Nghe vậy, N nói “Vậy thì đẩy ra đi”. T4 tiếp tục đẩy chiếc xe trên ra ngoài cổng khu nhà trọ một lần nữa. T4 vẫy kêu xe ôm chở N ngồi phía sau đẩy chiếc xe vừa trộm đƣợc do T4 điều khiển chạy đến một tiệm sửa xe (không rõ địa chỉ) để mở ổ khóa xe. Sau khi mở đƣợc ổ khóa xe, N điều khiển xe vừa trộm đƣợc chở T4 đến tiệm sửa xe không tên tại đƣờng số 5, khu phố 2, phƣờng Linh Xuân, quận Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh và bán xe cho đối tƣợng tên Ngọc (không rõ lai lịch) với giá 3.700.000đồng. N chia cho T4 1.000.000đồng, số tiền còn lại N giữ tiêu xài cá nhân hết.
Sau khi phát hiện bị mất tài sản, ông Hồ Hữu P3 đã đến Công an phƣờng Bình Hòa trình báo sự việc trên. Đến ngày 10/3/2020 Công an phƣờng Bình Hòa đã mời N, T4 về trụ sở để làm việc, tại đây N và T4 đã khai nhận hành vi phạm tội nhƣ trên.
Quá trình điều tra đến ngày 05/6/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An ra Quyết định khởi tố bị can và Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Trần Xuân T4 về tội Trộm cắp tài sản. Do hết thời hạn điều tra nhƣng chƣa bắt đƣợc T4 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã quyết định truy nã đối với Trần Xuân T4 đồng thời quyết định tách vụ án và tạm đình chỉ điều tra đối với Trần Xuân T4 khi nào bắt đƣợc sẽ phục hồi điều tra xử lý theo quy định.
Đối với 1 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave RSX màu đỏ đen, biển số 85C1 – 297.66 đã bị đƣa đi tiêu thụ không thu hồi đƣợc.
Tại Biên bản định giá tài sản và kết luận định giá tài sản ngày 16/3/2020 của Hội đồng định giá trong Tố tụng Hình sự thị xã (nay là thành phố) Thuận An kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave RSX màu đỏ đen, biển số 85C1 – 297.66 có trị giá là 15.000.000đồng.
Tại Bản cáo trạng số 216/CT-VKS-TA ngày 02 tháng 7 năm 2020 của
Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ quan điểm truy tố và đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng Điểm i, s, Khoản 1, Điều 51; Điểm o,
Khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N mức án từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện
của bị cáo N về việc bồi thƣờng cho bị hại P3 số tiền 15.000.000 đồng.
Bị cáo Nguyễn Văn N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình,
thống nhất tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng, không có ý kiến tranh luận. Bị cáo không nói lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành
phố Thuận An, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, ngƣời có quyền lợi, ngh a vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn N đã thành khẩn khai nhận toàn bộ
hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các tình tiết nhƣ bản cáo trạng đã truy tố, phù hợp với lời khai của bị hại, ngƣời có quyền lợi, ngh a vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án về thời gian địa điểm, quá trình thực hiện hành vi phạm tội và tài sản đã chiếm đoạt. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định:
Ngày 06/3/2020 tại khu nhà trọ số 005 thuộc khu phố Đông Ba, phƣờng
Bình Hòa, thị xã (nay là thành phố) Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, bị cáo Nguyễn Văn N đã cùng Trần Xuân T4 thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave RSX màu đỏ đen, biển số 85C1 – 297.66 có trị giá là 15.000.000đồng của bị hại Hồ Hữu P3, sau đó đem xe đi tiêu thụ tại địa bàn phƣờng Linh Xuân, quận Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi trên của bị cáo Nguyễn Văn N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, cáo trạng truy tố bị cáo Nguyễn Văn N với tội danh và khung hình phạt nêu trên là đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm
đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phƣơng. Bị cáo nhận thức đƣợc hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại là vi phạm pháp luật hình sự nhƣng vì tham lam, tƣ lợi, bị cáo vẫn thực hiện. Do đó, xét thấy cần phải có mức án tƣơng xứng với hành vi phạm tội để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Trong vụ án này, bị cáo N là ngƣời cầm đầu, rủ rê Trần Xuân T4 thực
hiện trộm cắp tài sản, cũng là ngƣời chủ động tìm nơi tiêu thụ tài sản.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên
tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng thuộc Điểm i, s, Khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại thời điểm thực hiện hành
vi tội phạm, bị cáo N là ngƣời đã thành niên, rủ rê, xúi giục Trần Xuân T4 (sinh ngày 21/12/2002 là ngƣời chƣa đủ 18 tuổi nên áp dụng tình tiết xúi giục ngƣời dƣới 18 tuổi phạm tội theo Điểm 0, Khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đối với ngƣời có quyền lợi, ngh a vụ liên quan ông Thập Thanh N4:
Xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave RSX màu đỏ đen biển số 85C1-297.66 do ông N4 lại mua vào năm 2018. Đến năm 2019, ông N4 đã bán lại cho một tiệm cầm đồ (không nhớ rõ địa chỉ). Do xe đã bán nên ông N4 không có yêu cầu gì trong vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với ngƣời có quyền lợi, ngh a vụ liên quan ông Lê Kim N7: Quá
trình điều tra đã giao nộp 01 USB bên trong chứa dữ liệu liên quan đến vụ án, ông N7 không yêu cầu nhận lại USB, do đó Hội đồng xét xử sẽ lƣu giữ USB theo hồ sơ vụ án.
Đối với Trần Xuân T4, quá trình điều tra, sau khi Cơ quan Cảnh sát
điều tra Công an thành phố Thuận An khởi tố bị can đối với Trần Xuân T4 thì T4 bỏ trốn nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã quyết định truy nã đối với Trần Xuân T4 đồng thời quyết định tách vụ án và tạm đình chỉ điều tra đối với Trần Xuân T4 để điều tra, xử lý sau.
Đối với đối tƣợng Kim Tấn Ngọc có liên quan đến việc mua bán xe do
bị can N, T4 lấy trộm trong vụ án, qua xác minh tại địa phƣơng không xác định đƣợc đối tƣợng Ngọc đang ở đâu nên cơ quan điều tra chƣa làm việc đƣợc với Ngọc. Do vụ việc có dấu hiệu tội phạm Tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có, xảy ra trên địa bàn phƣờng Linh Xuân, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã chuyển nguồn tin về tội phạm trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý, xác minh, giải quyết theo thẩm quyền.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, ông P3 xác định xe mô tô
nhãn hiệu HONDA, loại Wave RSX màu đỏ đen biển số 85C1-297.66 do ông P3 trực tiếp quản lý, sử dụng cho đến khi bị bị cáo N chiếm đoạt. Nay xe không thu hồi đƣợc, ông P3 yêu cầu bị cáo N bồi thƣờng cho ông P3 trị giá xe với số tiền 15.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thƣờng cho bị hại số tiền trên. Xét, đây là ý chí tự nguyện của bị cáo, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo N, cũng
nhƣ phần trách nhiệm dân sự là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu theo quy định
của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1, Điều 173; Điểm i, s, khoản 1, Điều 51; Điểm o, Khoản 1, Điều
52; Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Điều 136, 260, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Điều 584, 585, 586 và 589 Bộ Luật Dân sự năm 2015;
Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016
của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 10/3/2020.
2. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn N phải bồi thƣờng cho bị
hại Hồ Hữu P3 số tiền 15.000.000 đồng (mƣời lăm triệu đồng).
Kể từ ngày ngƣời đƣợc thi hành án có đơn yêu cầu thi hành cho đến khi
thi hành xong, nếu ngƣời phải thi hành án chậm thi hành thì hàng tháng ngƣời phải thi hành án còn phải trả cho ngƣời đƣợc thi hành án số tiền lãi theo quy định tại khoản 2, Điều 468 Bộ luật Dân sự tƣơng ứng với thời hạn và số tiền chậm trả.
Trƣờng hợp bản án đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm
nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 750.000 đồn (bảy trăm năm mƣơi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
tuyên án.
Bị hại, ngƣời có quyền lợi, ngh a vụ liên quan đƣợc quyền kháng cáo
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc kể từ ngày bản án đƣợc niêm yết theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - Phòng PV 27 CA tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thành phố Thuận An; - Công an thành phố Thuận An; - Chi cục THADS thành phố Thuận An; - Công an xã Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh A; - Bị cáo; bị hại; ngƣời có quyền lợi, ngh a vụ liên quan; - Lƣu: HS, THAHS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tố Uyên |