- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị Cẩm T phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự và đầu thú; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 211/2019/HS-PT Ngày: 27- 8- 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử ph thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh.
Các Thẩ phán:
Ông Huỳnh Thanh Mỹ.
Ông Lê Thành Tôn.
- Thư ký phiên tòa:
Bà Phan Thị im Loan- Th ký Tòa án nhân dân t nh Đ ng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Bà L u Thúy Ái - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân t nh Đ ng Tháp mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 160/2019/TLPT-HS ngày 04 tháng 7 năm 2019 đối v i ị cáo Lê Thị Cẩm T do có kháng cáo của ị cáo đối v i Bản án hình sự s thẩm số: 40 2019 HS-ST ngày 28 tháng 5 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố L, t nh Đ ng Tháp.
- cáo c háng cáo:
Lê Thị Cẩm T, sinh ngày XX- 9- 1992 tại t nh Đ ng Tháp; n i c trú (HKTT): Tổ XX, khóm X, ph ờng X, thành phố L, t nh Đ ng Tháp; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; gi i tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê O, sinh năm 1962 và bà Nguyễn H, sinh năm 1967; có ch ng và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị cấm đi khỏi n i c trú (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG V ÁN:
Theo các t i li u c trong h
v án v di n bi n tại phiên t a n i dung v án
c t t t nh au:
Khoảng 12 giờ ngày 19- 02- 2019, Lê Thị Cẩm T cùng v i Nguyễn A, sinh ngày 14- 11- 2004 (14 tuổi 03 tháng) ngụ tổ XX, khóm X, ph ờng X, thành phố L, t nh Đ ng Tháp; Nguyễn C, sinh ngày 24- 01- 2004 (15 tuổi 01 tháng) ngụ tổ XX, khóm X, ph ờng X, thành phố L; Phan H, sinh ngày 03- 9- 2005 (13 tuổi 10 tháng) ngụ tổ XX, khóm X, ph ờng X, thành phố L; Nguyễn D, sinh ngày 24- 12-2006 (13 tuổi 10 tháng) ngụ ấp T1, xã L1, huyện N, t nh Đ ng Tháp cùng nhau đi nhặt phế liệu. Nguyễn C m ợn xe thu mua phế liệu của ông Nguyễn Á tại vựa phế liệu Á ở ph ờng X, thành phố L chở cả nhóm đi đến ph ờng X, thành phố L.
Nguyễn Ai phát hiện nhà ông Lê B, sinh năm 1950 tại tổ XX, khóm X, ph ờng X, thành phố L khóa cửa bên ngoài, nghĩ là không có ng ời ở nhà nên A rủ cả nhóm tìm cách vào nhà lấy trộm tài sản và cả nhóm thống nhất, C đứng bên ngoài cửa tr c cảnh gi i, còn A, T, H, D đi cặp đ ờng bên hông ra phía sau nhà, A phá cửa rào và cửa sổ vào nhà cùng v i H, T và D ở bên ngoài hàng rào cảnh gi i, khi vào đ ợc bên trong nhà, A và H phát hiện két sắt trong phòng ngủ và tìm đ ợc chìa khóa cửa nhà, H lấy chìa khóa mở cửa sau, r i đ a chìa khóa cho D mở cửa rào. A, T, H, D lăn két sắt ra ngoài, C chạy xe đến và cùng cả nhóm khiêng lên xe chở về căn nhà không có ng ời ở trên đ ờng Lý K, ph ờng X, thành phố L r i cùng nhau dùng dụng cụ cạy, đập két sắt. Sau khi mở đ ợc két sắt phát hiện ên trong két có 13.000.000 đ ng và 14 chiếc nhẫn vàng 24k có tổng trọng l ợng 25 ch ; 01 dây chuyền, 01 mặt dây chuyền, 01 chiếc lắc đeo tay tất cả đều bằng kim loại vàng 18k có tổng khối l ợng 27,5 ch ; 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; 01 sổ tiết kiệm và các giấy tờ cá nhân của ông Ba.
Lê Thị Cẩm T và Nguyễn A giữ toàn bộ tài sản và các giấy tờ, T đ a cho C 200.000 đ ng từ tiền T bán phế liệu r i C mang xe đi trả, A đ a cho D và H 100.000 đ ng trong số tiền trộm để đi ch i game và chờ T và A mang vàng đi án r i sẽ chia nhau tiêu xài.
T và A mang các giấy tờ bỏ d i cầu Kênh XX, đ ờng T1, ph ờng X, thành phố L r i mang tiền về đ a cho Nguyễn S, sinh năm 1998 là ch ng của T nhờ S giữ giùm, sau đó T lấy lại để chi tiêu trên đ ờng đi án vàng. T và A đến thị trấn À, huyện M, t nh Đ ng Tháp bán cho 04 tiệm vàng cụ thể nh sau:
- Bán 01 lắc đeo tay, 01 dây chuyền và 01 mặt dây chuyền tổng khối l ợng 27,5 ch vàng 18k cho tiệm vàng T3 tại số XX, đ ờng Nguyễn T4, thị trấn À, huyện M.
- Bán 04 nhẫn có khối l ợng 08 ch vàng 24k cho tiệm vàng K1, tại số 47-XX, đ ờng Nguyễn T4, thị trấn À, huyện M.
- Bán 05 nhẫn có khối l ợng 07 ch vàng 24K cho tiệm vàng K 2 tại số XX, đ ờng Nguyễn T4, thị trấn À, huyện M.
- Bán 04 nhẫn có khối l ợng 08 ch vàng 24k cho tiệm vàng K3, đ ờng Nguyễn T4, thị trấn À, huyện M. A mua lại 01 dây chuyền và 01 nhẫn vàng 18k, T mua 01 nhẫn vàng 18k, T còn giữ lại 01 nhẫn vàng 24k.
Số tiền bán vàng T và A không nh rõ án đ ợc bao nhiêu tiền, các tiệm vàng mua bán nhiều trong ngày nên cũng không nh rõ số tiền đã mua vàng của T và A. Khi bán vàng, T và A nói bị thua đánh ạc nên cần bán vàng lấy tiền tiêu xài.
T và A biết đ ợc hành vi trộm cắp tài sản bị phát hiện nên T đ a hết số tiền cho A về đầu thú lúc 03 giờ ngày 20- 02- 2019. Ái giao nộp số tiền 104.600.000 đ ng. Đến ngày 28- 02- 2019 giao nộp 01 nhẫn và 01 dây chuyền bằng kim loại màu vàng. Trong cùng ngày 20- 02- 2019, Tú đến Công an thành phố L đầu thú về hành vi phạm tội. Ngày 27- 02- 2019, Tú giao nộp 01 nhẫn kim loại vàng 24k, trọng l ợng 02 ch có ký hiệu “Minh Trí 24k-2C-9999”.
Theo kết luận định giá tài sản số 33/KL- ĐGTS ngày 07- 3- 2019 của Hội đ ng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố L kết luận: 01 nhẫn kim loại màu vàng có ghi chữ và số “Minh Trí 24k-2C-9999” có giá 7.380.000 đ ng; 01 két sắt nhãn hiệu Gunn Gard model GFN-S5S, màu xám, đã qua sử dụng có giá 6.550.000 đ ng; vàng nữ trang 75% (vàng 18k) có trọng l ợng 27,5 ch có giá 75.625.000 đ ng; vàng nữ trang 99,99 (vàng 24k) có trọng l ợng 23 ch có giá 84.410.000 đ ng. Tổng trị giá 173.965.000 đ ng.
Ngày 19- 02- 2019, C quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L tổ chức truy tìm vật chứng và đã tìm đ ợc két sắt cùng các giấy tờ của ông B, đ ng thời thu giữ 01 xe a gác đạp của ông Nguyễn Á. Xét thấy ông Á không biết việc T cùng A, C, H, D sử dụng xe ba gác vào việc phạm tội nên ngày 21- 3- 2019 Công an đã trả xe lại cho ông A 1.
Ngày 07- 02- 2019 và ngày 26- 3- 2019, C quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã trả lại cho ông Lê B các tài sản sau: 104.600.000 đ ng; 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AE 998147 và BĐ 602657; 01 sổ tiết kiệm số CKII 608178; 01 nhẫn kim loại màu vàng có ghi chữ và số “Minh Trí 24k-2C-9999”; 02 nhẫn kim loại màu vàng; 01 dây chuyền màu vàng; 01 két sắt nhãn hiệu Gunn Gard model GFN-S5S. Ông Lê B nhận lại các tài sản trên, không yêu cầu b i th ờng gì thêm và có đ n xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đối v i Nguyễn A, Nguyễn C, Phạm H và Nguyễn D đã thực hiện hành vi lén lút lấy tài sản của ông B cùng v i Lê Thị Cẩm T, nh ng A, C, H và D là ng ời d i 16 tuổi nên không xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự. C quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã an hành văn ản đề nghị Ủy ban nhân dân ph ờng X, thành phố L áp dụng biện pháp xử phạt vi phạm hành chính đối v i A, C. H và D là ng ời ch a đủ tuổi xử phạt vi phạm hành chính nên không xem xét xử lý.
Đối v i số tiền Ađ a cho D và H là 100.000 đ ng và tiền A và T chi xài trên đ ờng đi án vàng từ số tiền trộm mà có nh ng ông B không yêu cầu A, T, C, H và D trả lại nên không đặt ra giải quyết.
Đối v i ông Nguyễn A 1 và ông Nguyễn S không biết việc cho m ợn xe để phạm tội và chứa chấp tài sản do phạm tội mà có nên không xem xét xử lý.
Đối v i 04 chủ tiệm vàng đã mua vàng của A và T nh ng không iết tài sản đó do vi phạm pháp luật mà có nên không xem xét xử lý.
Tại Bản án hình sự s thẩm số 40 2019 HS-ST ngày 28- 5- 2019 của Tòa án nhân dân thành phố L, t nh Đ ng Tháp đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Lê Thị Cẩm T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Thị Cẩm T 04 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
Về trách nhiệm dân sự: Ng ời bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu nên không đặt vấn đề giải quyết.
Ngoài ra, bản án s thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 12 tháng 6 nă 2019 b cáo Lê Th Cẩm T c
n háng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Thị Cẩm T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo theo nh phán quyết của Bản án s thẩm. Bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân t nh Đ ng Tháp phát iểu quan điểm: Hành vi của ị cáo Lê Thị Cẩm T ị Tòa án cấp s thẩm xét xử về “Tội trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng ng ời, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Mức án 04 năm 06 tháng tù mà Tòa án cấp s thẩm áp dụng đối v i bị cáo T là phù hợp v i tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra. Sau khi án s thẩm tuyên, bị cáo T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và có cung cấp giấy liệt sĩ của ông Nguyễn S1, đ n xác nhận mối quan hệ giữa bị cáo T v i ông Nguyễn S1 là cậu cháu có xác nhận của chính quyền địa ph ng, hiện bị cáo và mẹ của bị cáo đang thờ cúng ông S1. Ngoài ra, xét thấy gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, ch ng không có việc làm, bị cáo có 03 con còn nhỏ, gia đình ị cáo có sổ hộ cận nghèo, bị hại cũng đã nhận lại tài sản, không yêu cầu b i th ờng và xin giảm nhẹ cho bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ bổ sung của khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, đề nghị Hội đ ng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Lê Thị Cẩm T, sửa phần quyết định của Bản án s thẩm về hình phạt tù đối v i bị cáo Lê Thị Cẩm T, giảm nhẹ cho bị cáo từ 01 tháng đến 03 tháng tù. Ngoài ra, do bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên đề nghị miễn án phí hình sự s thẩm cho bị cáo.
Bị cáo Lê Thị Cẩm T không tham gia tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin đ ợc giảm nhẹ hình phạt để s m về v i gia đình, tái hòa nhập cộng đ ng.
NH N Đ NH CỦA T A ÁN:
Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong h s vụ án đã đ ợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận định nh sau:
[1] Xét Bản án hình sự s thẩm số 40/2019/HS- ST ngày 28- 5- 2019 của Tòa án nhân dân thành phố L, t nh Đ ng Tháp kết án bị cáo Lê Thị Cẩm T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng ng ời, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Thị Cẩm T khẳng định khi giải quyết vụ án từ Tòa án cấp s thẩm đến Tòa án cấp phúc thẩm, bị cáo không yêu cầu ng ời bào chữa, cũng nh không yêu cầu Trung tâm Trợ giúp pháp lý cử ng ời bào chữa cho bị cáo, bị cáo tự bào chữa cho hành vi của bị cáo. Xét thấy đây là sự tự nguyện của bị cáo phù hợp v i quy định của pháp luật nên chấp nhận.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đ ng xét xử thấy rằng bị cáo là ng ời đã tr ởng thành, có đầy đủ sức khỏe để lao động chân chính tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình nh ng vì muốn có tiền tiêu xài mà không cần phải lao động vất vả, bị cáo đã trộm cắp tài sản của ng ời khác. Hành vi của bị cáo bị Tòa án cấp s thẩm xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng. Khi xét xử, Tòa án cấp s thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và đầu thú, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là phù hợp pháp luật.
[4] Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xuất trình các tình tiết khác tại Tòa án cấp phúc thẩm nh tài liệu chứng nhận liệt sĩ đối v i ông Nguyễn S1 và xác nhận của chính quyền địa ph ng về mối quan hệ giữa bị cáo và ông S1 là cậu cháu, hiện tại mẹ của bị cáo và bị cáo là ng ời thờ cúng ông S1; hoàn cảnh gia đình ị cáo khó khăn có xác nhận của chính quyền địa ph ng, đây là các tình tiết m i theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên chấp nhận kháng cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra, xét thấy bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30- 02- 2016 của Ủy an Th ờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự s thẩm cho bị cáo. Vì vậy sửa quyết định của bản án s thẩm về hình phạt và án phí đối v i bị cáo Lê Thị Cẩm T.
[5] Xét thấy phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.
[6 Do kháng cáo của ị cáo T đ ợc chấp nhận nên ị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT Đ NH:
Căn cứ Điều 345; điểm khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30- 02- 2016 của Ủy an Th ờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thị Cẩm T.
Sửa phần quyết định của Bản án hình sự s thẩm số 40/2019/HS-ST ngày 28- 5- 2019 của Tòa án nhân dân thành phố L, t nh Đ ng Tháp về hình phạt tù và án phí hình sự s thẩm đối v i bị cáo Lê Thị Cẩm T.
Tuyên bố bị cáo Lê Thị Cẩm T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Thị Cẩm T 4 (Bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Về án phí: Miễn án phí hình sự s thẩm cho bị cáo Lê Thị Cẩm T. Bị cáo Lê Thị Cẩm T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần khác của quyết định bản án s thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
N i nh n:
| - TANDTC- Vụ Giám đốc kiểm tra 1; - Ban Nội chính T nh ủy: - Sở T pháp T nh; - VKSND T nh; - C quan THAHS Công an T nh; - TA-VKS-THADS thành phố L; - CQCSĐT Công an thành phố L; - Bị cáo; - Phòng h s nghiệp vụ Công an T nh; - Phòng KTNV-THA.Tòa án T nh; - L u: VT, HSVA (Loan). | TM. HỘI ĐỒNG X T X PH C TH M TH M PHÁN- CHỦ T A PHI N T A Nguyễn Tuấn Anh |