- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Trúc L yêu cầu xin ly hôn với Phạm Khắc Nh."
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Lê Thị Trúc L và anh Phạm Khắc Nh.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:211/2019/HNGĐ-ST Ngày: 31 - 5 - 2019 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP-TỈNH HẬU GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Liêm.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thế Tự;
2. Ông Huỳnh Mẫn Xuyên.
-Thư ký phiên tòa: Ông Phan Công Trận – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 04/2019/TLST-HNGĐ, ngày 04 tháng 01 năm 2019 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2019/QĐXXST-HN, ngày 26 tháng 4 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2019/QĐST-HN, ngày 21 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Lê Thị Trúc L, sinh năm 1984.
Địa chỉ: ấp A, xã H, huyện H, tỉnh Hậu Giang.
2.Bị đơn: Phạm Khắc Nh, sinh năm 1981.
Địa chỉ: ấp A, xã H, huyện H, tỉnh Hậu Giang.
Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn Lê Thị Trúc L (sau đây gọi chị L) trình bày: giữa chị và bị đơn Phạm Khắc Nh (sau đây gọi anh Nh) qua tìm hiểu nhau mà tự nguyện quyết định đi đến hôn nhân vào năm 2004, khi hai người chung sống thì phía gia đình anh Nh không đồng ý nhưng có đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống đến năm 2015 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Nh không lo làm ăn, đồng thời còn có tình cảm với người phụ nữ khác, từ đó vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau, đã nhiều lần hoà giải hàn gắn tình cảm nhưng không thành nên đã sống ly thân từ năm 2015 đến nay. Do cuộc sống chung không hạnh phúc, chị L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
-Về hôn nhân: xin ly hôn với anh Nh.
-Về con chung: có một người con chung tên Phạm Thành Nh (nam), sinh ngày 24 tháng 5 năm 2007, từ khi ly thân đến nay con chung sống với chị L, nay ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, chưa yêu cầu anh Nh cấp dưỡng.
-Về nợ và tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 11.01.2019 cháu Phạm Thành Nh trình bày (có sự chứng kiến của chị L): khi cha, mẹ cháu ly hôn thì cháu có nguyện vọng là được sống với mẹ.
Anh Phạm Khắc Nh vắng mặt nên không có lời trình bày.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: về thủ tục tố tụng: Tòa án, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đầy đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; tiếp tục giao con chung cho nguyên đơn nuôi dưỡng, bị đơn chưa phải cấp dưỡng; về nợ và tài sản chung, không yêu cầu nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.
Về thủ tục tố tụng: anh Phạm Khắc Nh được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do; căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử mở phiên tòa xét xử vắng mặt đối với anh Nh.
Xét về quan hệ hôn nhân: chị L và anh Nh qua tìm hiểu nhau, tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn ngày 22 tháng 6 năm 2004 tại Ủy ban nhân dân xã Thạnh Hòa, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang, nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp và được pháp luật thừa nhận.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị L, Hội đồng xét xử xét thấy: chị và anh Nh trong quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân theo chị L trình bày là anh Nh không lo làm ăn, từ đó bất đồng quan điểm sống nhưng không có giải pháp khắc phục để hoà giải hàn gắn tình cảm mà đã sống ly thân từ năm 2015; Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã tạo điều kiện để anh, chị được đoàn tụ nhưng anh Nh không đến để hòa giải đoàn tụ, từ đó xác định anh Nh cũng không còn tha thiết với cuộc hôn nhân này; xét thấy thời gian ly thân thì tự ai người đó sống, không ai quan tâm, lo lắng cho ai. Đồng thời, tại phiên tòa hôm nay, chị L xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh Nh và cương quyết xin ly hôn; từ đó thấy rằng hôn nhân giữa anh, chị đã thật sự lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình có cơ sở chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L.
Về con chung: anh, chị có một người con chung là cháu Nh, xét từ khi ly thân, cháu Nh sống với chị L, đồng thời, cháu Nh có nguyện vọng là được sống với chị L, chị cũng có yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Nh, nhằm tránh gây xáo trộn đời sống của cháu, cần tiếp tục giao cháu Nh cho chị L nuôi dưỡng là phù hợp và nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc khi chị L, anh Nhu có yêu cầu khác.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: chị L chưa yêu cầu anh Nh cấp dưỡng nên không đặt ra xem xét. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho Nh mà không ai có quyền cản trở.
Về tài sản và nợ chung: không yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí: chị L phải nộp theo quy định pháp luật.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo luật định.
Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa có căn cứ chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227 Bộ Luật Tố tụng dân sự. Các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Lê Thị Trúc L và anh Phạm Khắc Nh.
2. Về nuôi con chung: Lê Thị Trúc L được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Thành Nh (nam), sinh ngày 24 tháng 5 năm 2007 cho đến khi cháu Nh đủ 18 tuổi hoặc khi chị L, anh Nh có yêu cầu khác. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho anh Nh mà không ai có quyền cản trở.
3. Về tài sản và nợ chung: không yêu cầu, không xem xét
4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: chị Lê Thị Trúc L phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ từ 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0016988, ngày 03.01.2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang thành án phí, không ai phải nộp thêm.
Trường hợp quyết định này được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh HG; - VKSND huyện PH; - THADS huyện PH; -UBND xã Thạnh Hòa, h. Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thanh Liêm |