- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 91/2015/QH13 Về chương trình hoạt động giám sá…; Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 2101/2026/DS-ST Ngày: 11/9/2026 V/v : Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Duy Minh Chính.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Thái Thục Hiền.
2. Ông Ngô Văn Được.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Phương Vy – Thư ký của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Duy Anh – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 21 tháng 8 và 11 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1749/2026/TLST-DS ngày 08 tháng 7 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh, về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3626/2026/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 7 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 4542/2026/QĐST-DS ngày 21 tháng 8 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V
Địa chỉ: Số H L, phường Đ, Thành phố Hà Nội;
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Lâm N;
Địa chỉ liên hệ: Tầng F, số A đường L, phường G, Thành phố Hồ Chí Minh; (Theo Văn bản ủy quyền số 76/2026/UQ-KHCN ngày 01/6/2026); (Vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Lê Minh H; Sinh năm 1978;
Nơi cư trú: Số A N, phường C (Phường A, Quận H cũ), Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn thông qua người đại diện hợp pháp trình bày:
Ông Lê Minh H có vay vốn tại Ngân hàng TMCP V (sau đây gọi tắt là V1) theo Giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, số hợp đồng vay vốn LN96197325-P, số hồ sơ giải ngân 085705, ký ngày 01/10/2014 (sau đây gọi tắt là Hợp đồng), cụ thể: Hạn mức tín dụng: 30.000.000 đồng; Mục đích sử dụng vốn vay: Vay tiêu dùng cá nhân; Thời hạn vay: 60 tháng; lãi suất cho vay được điều chỉnh định kỳ theo Biểu lãi suất tham chiếu do V1 công bố từng thời kỳ theo thỏa thuận tại Hợp đồng.
Quá trình thực hiện Hợp đồng, V1 đã giải ngân đủ số tiền cho ông H theo hạn mức tín dụng nêu trên. Tuy nhiên, ông H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi vay kể từ ngày 07/4/2024. Mặc dù Ngân hàng đã tạo điều kiện về thời gian để ông H trả nợ nhưng ông H vẫn không có phương án trả dứt nợ. Toàn bộ khoản vay đã bị chuyển sang nợ quá hạn và áp dụng lãi suất quá hạn theo thỏa thuận tại Hợp đồng. Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 31/7/2026 và tại bản tự khai bổ sung có trong hồ sơ vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xác định số liệu nợ tạm tính đến ngày 11/9/2026, cụ thể: Nợ gốc: 87.951.237 đồng; Nợ lãi quá hạn: 161.550.917 đồng. Tổng cộng: 249.502.154 đồng (Bằng chữ: Hai trăm bốn mươi chín triệu năm trăm linh hai nghìn một trăm năm mươi bốn đồng).
Nhận thấy ông Lê Minh H vi phạm nghĩa vụ đã cam kết theo Hợp đồng, để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, V1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc ông Lê Minh H phải thanh toán ngay cho V1 toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi phát sinh theo Hợp đồng, tạm tính đến ngày 11/9/2026 là 249.502.154 đồng, trong đó nợ gốc 87.951.237 đồng và nợ lãi 161.550.917 đồng; tiếp tục trả lãi quá hạn theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận kể từ ngày 12/9/2026 cho đến khi trả hết nợ.
- Ông Lê Minh H phải chịu toàn bộ án phí và các chi phí có liên quan (nếu có).
V1 xác định chỉ cho cá nhân ông Lê Minh H vay vốn, không liên quan đến người khác nên không yêu cầu người khác liên đới chịu trách nhiệm và không yêu cầu đưa thêm người tham gia tố tụng trong vụ án này.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và giấy triệu tập cho bị đơn để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Tòa án đã xác minh nơi cư trú của bị đơn thông qua Công an phường C, kết quả xác định ông Lê Minh H có đăng ký thường trú tại Số A N, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh – phù hợp với địa chỉ Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng. Tại phiên tòa ngày 21/8/2026, bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do và không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử đã ra quyết định hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn tiếp tục vắng mặt dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi xét xử, Viện kiểm sát nhận thấy:
Về tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục thụ lý, thu thập, đánh giá chứng cứ, triệu tập đương sự và thời hạn tố tụng. Vụ án được giải quyết trong thời hạn theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự
Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng theo Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn ông Lê Minh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không tham gia tố tụng, không có ý kiến bằng văn bản, vi phạm nghĩa vụ tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Việc Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Ông Lê Minh H vay vốn tại Ngân hàng TMCP V theo Giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, số hợp đồng vay vốn LN96197325-P, số hồ sơ giải ngân 085705, ký ngày 01/10/2014, hợp đồng được giao kết hợp pháp, có hiệu lực thi hành. Ông H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi từ ngày 07/4/2024. Tính đến ngày 11/9/2026, tổng nợ là 249.502.154 đồng, trong đó nợ gốc 87.951.237 đồng và nợ lãi 161.550.917 đồng.
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Thông tư số 39/2016/TT-NHNN, cần được chấp nhận.
Từ đó, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V;
- Buộc ông Lê Minh H thanh toán cho nguyên đơn số tiền 249.502.154 đồng (nợ gốc và lãi tính đến ngày 11/9/2026), tiếp tục chịu lãi phát sinh theo hợp đồng cho đến khi thanh toán xong;
- Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Lê Minh H thanh toán nợ phát sinh từ Giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, số hợp đồng vay vốn LN96197325-P, số hồ sơ giải ngân 085705, ký ngày 01/10/2014. Đây là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ thanh toán phát sinh từ hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và cá nhân vay vốn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn đăng ký thường trú tại phường C, Thành phố Hồ Chí Minh, cũng là địa chỉ cư trú ghi trong Hợp đồng, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 3 Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn được triệu tập hợp lệ tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 31/7/2026 nhưng vắng mặt không lý do, không có văn bản đề nghị giải quyết vắng mặt nên phiên hòa giải không tiến hành được. Tòa án đã xác minh nơi cư trú thực tế của bị đơn theo Điều 6, khoản 5 Điều 70, Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, kết quả phù hợp với địa chỉ đã tống đạt văn bản tố tụng. Tại phiên tòa ngày 21/8/2026, bị đơn tiếp tục vắng mặt không lý do, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa để tiếp tục triệu tập theo Điều 227, Điều 233 và Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn tiếp tục vắng mặt dù đã được triệu tập hợp lệ. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án.
Về yêu cầu của đương sự: Hội đồng xét xử thấy rằng:
Ông Lê Minh H có vay vốn tại V1 theo Giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, số hợp đồng vay vốn LN96197325-P, số hồ sơ giải ngân 085705, ký ngày 01/10/2014, hạn mức tín dụng 30.000.000 đồng, mục đích vay tiêu dùng cá nhân, thời hạn vay 60 tháng. Quá trình thực hiện Hợp đồng, V1 đã nâng hạn mức, đồng ý cấp hạn mức tín dụng cho ông H với mức được cấp: 131.600.000 đồng (Theo phục lục 01) và đã giải ngân đủ số tiền vay cho ông H, nhưng ông H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi vay kể từ ngày 07/4/2024, dẫn đến toàn bộ khoản vay bị chuyển sang nợ quá hạn và áp dụng lãi suất quá hạn theo thỏa thuận tại Hợp đồng.
Hội đồng xét xử xét thấy Hợp đồng được giao kết trên cơ sở tự nguyện giữa các bên, hình thức và nội dung phù hợp với quy định của Luật các tổ chức tín dụng và Bộ luật Dân sự, nên có hiệu lực pháp luật và làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên. Việc ông Lê Minh H không thanh toán đầy đủ, đúng hạn các khoản nợ đã cam kết là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Tính đến ngày 11/9/2026, số tiền nợ của ông Lê Minh H đối với V1 được xác định là 249.502.154 đồng, trong đó nợ gốc 87.951.237 đồng và nợ lãi 161.550.917 đồng. Các khoản lãi này được tính toán phù hợp với thỏa thuận trong Hợp đồng và quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), khoản 4 Điều 13 và khoản 5 Điều 14 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN của Ngân hàng N1.
Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông Lê Minh H thanh toán số tiền nợ gốc và lãi nói trên là có căn cứ, cần được chấp nhận toàn bộ.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, giấy triệu tập cho bị đơn để bị đơn tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tuy nhiên, bị đơn ông Lê Minh H đều vắng mặt không có lý do chính đáng, không tham gia phiên họp, không thực hiện việc hòa giải theo quy định pháp luật.
Mặc dù Tòa án đã tạo điều kiện để bị đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, nhưng trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu, chứng cứ để phản đối yêu cầu khởi kiện, không đưa ra yêu cầu phản tố, không đề nghị thu thập chứng cứ nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Hành vi nêu trên của bị đơn được xác định là không thực hiện nghĩa vụ tham gia tố tụng, vi phạm nghĩa vụ quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; đồng thời được xem là từ bỏ quyền trình bày ý kiến, quyền chứng minh và quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong quá trình giải quyết vụ án. Việc bị đơn không tham gia tố tụng, không cung cấp chứng cứ là tự tước bỏ quyền chứng minh của mình; Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét, đánh giá yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập hợp pháp và do nguyên đơn cung cấp, làm căn cứ để giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
Về lãi phát sinh sau thời điểm xét xử:
Hội đồng xét xử xét thấy, tại Hợp đồng số LN96197325-P (số hồ sơ giải ngân 085705) ký ngày 01/10/2014, các bên đã thỏa thuận cụ thể về lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn và phương thức tính lãi; Đồng thời thống nhất việc bên vay phải tiếp tục chịu lãi trên số dư nợ gốc chưa thanh toán cho đến khi thanh toán xong toàn bộ nghĩa vụ. Thỏa thuận về lãi suất nêu trên phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, khoản 4 Điều 13 và khoản 5 Điều 14 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN. Do bị đơn không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng, nên phải tiếp tục chịu lãi phát sinh trên số dư nợ gốc chưa thanh toán kể từ ngày 12/9/2026 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ, theo đúng thỏa thuận đã ký.
Yêu cầu của nguyên đơn về việc tính lãi phát sinh sau thời điểm xét xử là có căn cứ pháp luật, nên được chấp nhận.
Quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ để chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với số tiền 249.502.154 đồng. Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13;
- Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 01/7/2025 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;
- Điều 3 Nghị quyết 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực;
Áp dụng:
- Các Điều 463, 466 và 468 Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13;
- Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); Thông tư số 39/2016/TT-NHNN của Ngân hàng N1;
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V.
2. Buộc ông Lê Minh H phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP V số tiền nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày 11/9/2026 là 249.502.154 đồng (Hai trăm bốn mươi chín triệu năm trăm linh hai nghìn một trăm năm mươi bốn đồng). Trong đó:
Nợ gốc 87.951.237 đồng và
Nợ lãi 161.550.917 đồng.
3. Kể từ ngày 12/9/2026 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ, ông Lê Minh H còn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh trên số dư nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất và phương thức tính lãi đã thỏa thuận tại Giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, số hợp đồng vay vốn LN96197325-P, số hồ sơ giải ngân 085705, ký ngày 01/10/2014.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
4.1. Ông Lê Minh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 12.475.108 đồng (Mười hai triệu bốn trăm bảy mươi lăm nghìn một trăm lẻ tám đồng). Nộp tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
4.2. Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP V số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.674.634 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0038661 ngày 17/6/2026 của Cơ quan Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Thi hành tại cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 4, 34 và 36 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 34 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Phòng THADS KV10- TP.HCM; - THA DS TP.HCM; - VKSND KV 10-TP. HCM; - TAND TP.HCM; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lương Duy Minh Chính |