vanban.org

Bản án 210/2026/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh V.

Buộc bà Đỗ Hồng N thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh V các khoản tính đến ngày 24/3/2026 với tổng số tiền nợ các khoản là 105.621.072 đồng (một trăm lẽ năm triệu sáu trăm hai mươi mốt nghìn không trăm bảy mươi hai đồng) trong đó, nợ gốc là 83.660.255 đồng và nợ lãi là 21.960.… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V - Đỗ Hồng N"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh V.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 210/2026/DS-ST
Ngày 31 – 3 – 2026
V/v tranh chấp HĐ tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lâm Hoài Ân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đỗ Mỹ Lil

2. Bà Nguyễn Huỳnh Hưỡng

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Vũ Phong – Là Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau.

Ngày 31 tháng 3 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 202/2026/TLST-DS, ngày 24 tháng 02 năm 2026 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 220/2026/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 3 năm 2026 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh V; địa chỉ: số 89, Láng Hạ, phường Đ, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Anh Lê Minh K - Chức vụ: Cán bộ xử lý nợ và anh Bùi Văn S - Chức vụ: Trưởng bộ phận xử lý nợ; Địa chỉ: số 149K, đường Nguyễn Tất Thành, phường L, tỉnh Cà Mau; Là người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh V theo văn bản ủy quyền số: 44552/2026/UQ-VPB ngày 15/01/2026 (anh K xin vắng mặt, anh S vắng mặt).

2. Bị đơn: Bà Đỗ Hồng N, sinh năm 1973; Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 18/11/2021, nơi cấp: Cục CSQLHC về TTXH; Địa chỉ: ấp Mũi Tràm B, xã Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Ngày 14/11/2024, Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh V (gọi tắt là Ngân hàng) cùng bà Đỗ Hồng N thỏa thuận ký giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán dịch vụ ngân hàng điện tử số LN2411154309331 với hạn mức cho vay là 99.000.000 đồng. Đến ngày 18/11/2024, Ngân hàng giải ngân cho bà N vay số tiền 99.000.000 đồng theo hồ sơ giải ngân số LD2432301101, mục đích vay nhằm phục vụ nhu cầu đời sống, thời hạn vay 36 tháng tính từ ngày giải ngân, lãi suất thỏa thuận được ghi nhận tại hợp đồng và định kỳ bên vay phải thanh toán nợ gốc và lãi 01 tháng/lần. Khi đó, hệ thống sẽ tự động tính lãi gốc trong kỳ thanh toán và gửi thông báo số tiền gốc, lãi cho khách hàng biết số tiền cụ thể. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng từ ngày 18/9/2025 cho đến nay, hiện bà N còn nợ Ngân hàng tính đến ngày 24/3/2026 với tổng số tiền nợ các khoản là 105.621.072 đồng trong đó, nợ gốc là 83.660.255 đồng và nợ lãi là 21.960.817 đồng (lãi trong hạn 14.640.545 đồng, lãi quá hạn 7.320.272 đồng) nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà N thanh toán một lần hết số tiền nợ trên và tiếp tục thanh toán lãi phát sinh cho đến khi thanh toán xong nợ. Đồng thời, do bận công việc nên người đại diện hợp pháp của Ngân hàng xin vắng mặt trong quá trình xét xử vụ án.

Đối với bà Đỗ Hồng N (bị đơn), Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng chị không đến Toà, cũng không gửi văn bản để nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Về thủ tục tố tụng, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc niêm yết các văn bản tố tụng cho bị đơn gồm: Thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ vụ án ra xét xử và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do, riêng người đại diện hợp pháp của nguyên đơn đã có lời khai và xin vắng mặt nên căn cứ các Điều 228, 238 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận việc xin vắng mặt của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và quyết định vẫn tiến hành đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn.

Tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp hợp đồng tín dụng, có quy định lãi suất cụ thể là giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán dịch vụ ngân hàng điện tử số LN2411154309331, ngày 14/11/2024 và hồ sơ giải ngân số LD2432301101, ngày 18/11/2024. Quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn không trả nợ gốc và lãi theo thoả thuận là đã vi phạm điều khoản cam kết nên được xem xét làm cơ sở để thanh lý hợp đồng.

Mặc dù, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ, song vẫn vắng mặt không rõ lý do và trong thời gian giải quyết vụ án, bị đơn không đến Toà, không gửi văn bản ý kiến để phản bác hoặc phản tố đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và lời trình bày của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án, thể hiện: Việc bị đơn có vay và hiện còn nợ nguyên đơn các khoản tính đến ngày 24/3/2026 với tổng số tiền nợ các khoản là 105.621.072 đồng (một trăm lẽ năm triệu sáu trăm hai mươi mốt nghìn không trăm bảy mươi hai đồng) là sự thật nên không phải chứng minh. Do đó, cần buộc bị đơn có trách nhiệm thanh toán số tiền nợ trên cho nguyên đơn cùng lãi phát sinh theo quy định tại hợp đồng cho đến khi thanh toán xong nợ là phù hợp.

Về thời gian và phương thức thanh toán nợ, tuy nguyên đơn có yêu cầu bị đơn thanh toán một lần hết số tiền nợ vay nhưng Hội đồng xét xử thấy rằng, việc thanh toán thuộc thẩm quyền giải quyết của Cơ quan thi hành án sau khi bản án có hiệu lực pháp luật nên không đề cập xem xét trong vụ án.

Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, bị đơn phải chịu theo quy định. Nguyên đơn không phải chịu, số tiền tạm ứng án phí đã nộp được trả lại toàn bộ cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 463, 466, 470 của Bộ luật dân sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 100 của Luật các Tổ chức tín dụng;

Căn cứ các Điều 147, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh V.

Buộc bà Đỗ Hồng N thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh V các khoản tính đến ngày 24/3/2026 với tổng số tiền nợ các khoản là 105.621.072 đồng (một trăm lẽ năm triệu sáu trăm hai mươi mốt nghìn không trăm bảy mươi hai đồng) trong đó, nợ gốc là 83.660.255 đồng và nợ lãi là 21.960.817 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày 24/3/2026, bà N còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ vốn chưa thanh toán, theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ vốn này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thì lãi suất mà bà N phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

Bà Đỗ Hồng N phải nộp số tiền là 5.281.000 đồng (năm triệu hai trăm tám mươi mốt nghìn đồng - chưa nộp).

Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh V không phải nộp. Ngày 05/02/2026, Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh V đã nộp số tiền tạm ứng án phí là 2.420.000 đồng (hai triệu bốn trăm hai chục nghìn đồng) theo biên lai thu số 0001492 được trả lại toàn bộ cho Ngân hàng.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ