vanban.org

Bản án 210/2025/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 25/08/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/08/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Phạm Văn V;

Hủy toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số: 37/205/HS-ST ngày 03/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk (nay là Tòa án nhân dân khu vực 9 - Đắk Lắk); Giao toàn bộ Hồ sơ vụ án cho Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk (nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Đắk Lắk)) để đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Phạm Văn Văn, bị Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Đắk Lắk xét xử về tội “Hủy hoại tài sản” - Bị truy tố tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng…"
  • Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Phạm Văn V;
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 210/2025/HS-PT
Ngày 25 - 8 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Danh Đại.

Các Thẩm phán: Ông Y Thông Kbuôr, bà Lê Thị Thái Lan.

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Đức Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa:

Ông Hoàng Văn Thoán - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 8 năm 2025, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã đưa ra xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 196/2025/TLPT-HS ngày 14 tháng 7 năm 2025. Do có kháng cáo của bị cáo Phạm Văn V đối với Bản án hình sự sơ thẩm 37/2025/HS-ST ngày 03/6/2025 của Toà án nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk (nay là Tòa án nhân dân khu vực 9 - Đắk Lắk).

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Phạm Văn V; Sinh ngày 28 tháng 6 năm 1985, tại tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Tổ dân phố D, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã E, tỉnh Đắk Lắk); Nghề nghiệp: Thợ mộc; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Bá Q, sinh năm 1961 và con bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1961; Bị cáo có vợ là Trương Thị Tuyết N, sinh năm 1996; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2013 và con nhỏ sinh năm 2018. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/01/2025 cho đến nay - Có mặt tại phiên tòa;

- Bị hại: Ông Nguyễn Văn V1, sinh năm 1994; Có mặt.

Nơi cư trú: Buôn B, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã E, tỉnh Đắk Lắk).

- Người chứng kiến: 1. Bà H’ Ly Za M, sinh năm 1993; Có mặt.

Nơi cư trú: Buôn B, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã E, tỉnh Đắk Lắk).

2. Bà Trương Thị Tuyết N, sinh năm 1996; Vắng mặt.

Nơi cư trú: Tổ dân phố D, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã E, tỉnh Đắk Lắk);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tháng 11 năm 2022, ông Nguyễn Văn V1 có nhận gia công 10 chiếc bàn gỗ theo đơn đặt hàng của Phạm Văn V với tiền công là 40.000.000 đồng. Sau khi làm xong, ông V1 đã giao hết số bàn gỗ cho V, nhưng do một số sản phẩm bị lỗi nên V chỉ trả cho ông V1 số tiền 31.000.000 đồng, số tiền 9.000.000 đồng còn lại, V nói với V1 sẽ thanh toán hết sau khi được sửa lại các sản phẩm bị lỗi, nhưng sau nhiều lần thương lượng, thoả thuận hai bên vẫn chưa thống nhất được với nhau.

Vào sáng ngày 03/3/2023, V gọi điện thoại cho V1 đến nhà V để nói chuyện về số tiền nêu trên. Khoảng 12 giờ 30 cùng ngày, V1 cùng với vợ là bà H’ Ly Za Mlô đi đến nhà của V để đòi số tiền công còn lại. Khi gặp V và vợ là Trương Thị Tuyết N tại phòng khách nhà của V, hai bên nói chuyện với nhau về số tiền công mà V còn nợ V1. Trong quá trình nói chuyện thì giữa ông V1 và V xảy ra mâu thuẫn dẫn đến tranh cãi với nhau, nên ông V1 lấy điện thoại di dộng nhãn hiệu iPhone 8 Plus, màu trắng của mình ra quay phim ghi lại sự việc để làm căn cứ giải quyết sau này, khi ông V1 đang cầm điện thoại trên tay để chuẩn bị quay phim thì V đi đến gần ông V1 rồi dùng tay giật lấy chiếc điện thoại ném xuống nền nhà (phòng khách) làm chiếc điện thoại bị vỡ, hư hỏng.

Sau khi sự việc xảy ra, ông V1 đã dùng điện thoại thông minh, nhãn hiệu OPPO A53, màu đen gắn sim số 0343.545.337 của bà H’ Ly Za M quay phim, chụp ảnh ghi nhận lại tình trạng chiếc điện thoại Iphone 8 Plus của mình đã bị V ném vỡ, hư hỏng. Sau đó hai bên tiếp tục ngồi nói chuyện thương lượng và thống nhất, vợ chồng V đã trả cho V1 số tiền 4.500.000 đồng, trong tổng số tiền công còn lại. Sau khi nhận số tiền trên, ông V1 yêu cầu V có trách nhiệm giải quyết bồi thường chiếc điện thoại của mình do bị V ném xuống nền nhà làm hư hỏng như đã nêu trên, nhưng V không đồng ý mà còn có lời nói thách thức, nên ông V1 trình báo sự việc đến Cơ quan Công an để giải quyết theo quy định.

Trong quá trình điều tra, Phạm Văn V không thừa nhận hành vi đã giật điện thoại của ông V1 rồi ném xuống nền nhà làm bể vỡ điện thoại, mà V chỉ thừa nhận có dùng tay hất mạnh vào tay ông V1 đang cầm điện thoại, mục đích không cho Vũ quay P, chiếc điện thoại của V1 có bị rơi hư hỏng hay không thì V không biết.

Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E đã thu 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu trắng bị hư hỏng, bể màn hình; thân điện thoại bị bể vỡ, tách rời hai phần (đã được niêm phong); 01 USB nhãn hiệu Kingston, màu đỏ có chứa 10 hình ảnh và 01 đoạn video clip, có thời lượng 05 giây (đã được niêm phong, kèm theo hồ sơ). Viện kiểm sát nhân dan huyện E thu giữ 01 điện thoại di động hiệu OPPO A53 màu đen cho bà H’ Ly Za M để tiến hành trưng cầu giám định lại đối với các file ảnh liên quan đến vụ án.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 11/KL-HĐĐGTS, ngày 24/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện E, kết luận: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu trắng bị hư hỏng nêu trên có giá trị là 4.000.000 đồng.

Tại Bản kết luận giám định số 160/KL-KTHS ngày 22 tháng 02 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận: 10 tập tin hình ảnh không phát hiện thấy dấu hiệu cắt, ghép, chỉnh sửa; Tập tin video: Từ 00 phút 00 giây đến 00 phút 02 giây không phát hiện thấy dấu hiệu cắt, ghép, chỉnh sửa; từ 00 phút 02 giây đến 00 phút 05 giây không đủ cơ sở để xác định tập tin video cắt, ghép, chỉnh sửa.

Tại biên bản xác định hiện trường do Cơ quan điều tra Công an huyện E lập ngày 09/10/2024, xác định hiện trường nơi xảy ra sự việc vào ngày 03/3/2023 là tại phòng khách trong nhà của Phạm Văn V, địa chỉ Tổ dân phố D, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

Ngày 10/01/2025, Cơ quan điều tra Công an huyện E tiến hành thực nghiệm điều tra, ghi nhận hai trường hợp:

Trường hợp 1: Khi V1 cầm điện thoại bằng tay phải, V dùng mu bàn tay trái hất trúng tay đang cầm điện thoại của V1, khi V thực hiện đồng tác này thì điện thoại của V1 đang cầm bên tay phải (điện thoại cầm theo hướng dọc và quay phần quay phim; chụp hình hướng về mặt V), sau đó V dùng hai tay đẩy người V1 ra ngoài. Trường hợp này điện thoại V1 cầm trên tay không bị rơi khởi tay và không bị hư hỏng gì.

Trường hợp 2: V1 cầm điện thoại Iphone 8 Plus màu trắng (Điện thoại dùng để thay thế điện thoại của V1 bị hỏng trước đó) ở tay phải theo hướng dọc (quay điện thoại theo hướng dọc) và hướng phần quay phim về mặt V, văn dùng tay phải giật điện thoại lên ném xuống nền gạch men trong nhà Văn (nền gạch men trong phòng khách). Trường hợp này điện thoại bị bể vỡ làm hai phần tách rời, điện thoại bể cách chân phải V là 57 cm, cách chân phải V1 là 1,10 cm, cách tường nhà phía tây là 1,47 cm.

Tại Bản kết luận giám định số 649/KL-KTHS ngày 02 tháng 5 năm 2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận: 10 tập tin hình ảnh ký hiệu từ A1 đến A10 thời gian khởi tạo ngày 03/03/2023 (theo thuộc tính của tệp tin hình ảnh) không phát hiện thấy dấu hiệu cắt, ghép, chỉnh sửa; Tập tin videos ký hiệu A11, thời gian khởi tạo ngày 03/3/2025 không phát hiện thấy dấu hiệu cắt, ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh.

- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 37/2025/HS-ST ngày 03/6/2025 của Toà án nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk đã Quyết định:

Tuyên bố: bị cáo Phạm Văn V, phạm tội “Hủy hoại tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm h,i khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải trạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh Đ nhận được quyết định thi hành án.

Về khấu trừ thu nhập: Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

Giao bị cáo cho Công an nhân dân thị trấn E và UBND thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Trường hợp người được bị áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật thi hành án hình sự.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 16/6/2025, bị cáo Phạm Văn V kháng cáo toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số: 37/2025/HS-ST ngày 03/6/2025 của Toà án nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk, đề nghị cấp phúc thẩm tuyên bố bị cáo không phạm tội “hủy hoại tài sản”.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phạm Văn V vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và trình bày: Khi thấy V1 cầm điện thoại quay vợ bị cáo thì bị cáo nói V1 không được quay và bị cáo chỉ hất mu bàn tay trái trúng vào tay cầm điện thoại của V1, có làm điện thoại văng ra hay không thì bị cáo không rõ, điện thoại của V1 rơi vị trí nào và rơi bao xa bị cáo không biết. Giữa bị cáo và bị hại hoàn toàn không có mâu thuẫn, sau khi có lời qua tiếng lại thì giữa gia đình bị cáo và bị hại đã thống nhất giải quyết thanh toán công nợ với nhau và chi trả tiền cho nhau nên bị cáo hoàn toàn không có mục đích làm hư hỏng điện thoại của bị hại. Bị cáo cho rằng chiếc điện thoại mà bị hại V1 giao nộp mà không có biên bản thu giữ tại hiện trường, việc giao nộp do chính bị hại giao nộp tại cơ quan điều tra là không khách quan, việc giao nộp chiếc điện thoại sau khi bị hại đã rời khỏi kiện trường thì lấy gì để đảm bảo chiếc điện thoại không bị tác động thêm. Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ dựa vào hình ảnh chiếc điện thoại hư tại nhà bị cáo để xác định bị cáo giật và đập bể điện thoại của V1 mà không có chứng cứ trực tiếp là không thuyết phục. Việc giám định giá trị điện thoại và mức thiệt hại của điện thoại không dựa trên thực tế tại hiện trường mà chỉ dựa vào hình ảnh hiện trạng điện thoại đã rời khỏi hiện trường. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm tuyên bố bị cáo không phạm tội.

Quá trình tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk cho rằng: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Phạm Văn V không thừa nhận hành vi phạm tội, tuy nhiên căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, thấy rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Phạm Văn V về tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp lý, đúng người, đúng tội. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiếp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và áp dụng mức xử phạt 01 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn V, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 37/2025/HS-ST ngày 03/6/2025 của Toà án nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk (nay là Tòa án nhân dân khu vực 9 - Đắk Lắk).

Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm tuyên bố bị cáo không phạm tội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Quá trình điều tra, truy tố, xét xử ở cấp sơ thẩm có một số tình tiết, nội dung của vụ án mà cấp sơ thẩm chưa làm rõ để xử lý đầy đủ, toàn diện, triệt để trong vụ án. Cụ thể, là các nội dung sau:

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 11/KL-HĐĐGTS, ngày 24/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện E, kết luận: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu trắng bị hư hỏng nêu trên có giá trị là 4.000.000 đồng. Như vậy, nội dung định giá chỉ xác định giá trị chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu trắng bị hư hỏng nêu trên có giá trị là 4.000.000 đồng trong khi chưa làm rõ: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus của bị hại Nguyễn Văn V1 bị hủy hoại (hư hỏng toàn bộ) hay chỉ hư hỏng một phần; Chiếc điện thoại trên có khả năng khôi phục lại tình trạng của tài sản trước khi bị hủy hoại, hư hỏng hay không? Trường hợp này, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải yêu cầu xác định giá trị thiệt hại của tài sản bị hủy hoại, hư hỏng một phần hoặc toàn bộ (phải có kết luận cụ thể của cơ quan chuyên môn có thẩm quyền xác định).

Quá trình điều tra, bị hại ông Nguyễn Văn V1 và vợ là H’ Ly Za M xác định sau khi xảy ra sự việc tại nhà bị cáo Phạm Văn V thì bị hại ông Nguyễn Văn V1 có gọi tổng đài 113 để trình báo sự việc, tại Bút lục số 139, thể hiện số thuê bao 0343.545.337 gọi đến tổng đài 113 để trình báo sự việc 03 cuộc gọi do đó cần xác minh thời điểm trên tổng đài 113 thì ai là người nhận tin báo từ bị hại V1 và nội dung trình báo sự việc gì?

Tại các Bút lục 77 ghi nhận lời khai của bị hại Nguyễn Văn V1 và Bút lục 88 ghi nhận lời khai của chị H’ Ly Za M thời điểm xảy ra sự việc thì có con trai của bị cáo Phạm Văn V, tại Bút lục 230 ghi nhận hình ảnh do chị H’ Ly Za M cung cấp được trích xuất từ điện thoại nhãn hiệu OPPO A53 cũng ghi nhận có một cháu trai ngồi cùng, tại phiên tòa bị hại V1 và người chứng kiến H’ Ly Za Mlô đều khai có con trai của bị cáo Phạm Văn V tại thời điểm bị cáo V đập điện thoại Iphone 8 Plus của bị hại V1. Do đó, cần tiến hành lấy lời khai làm rõ người này có chứng kiến sự diễn ra vào ngày 03/3/2023 giữa bị cáo V và bị hại V1 hay không?

Tại các Biên bản ghi lời khai tại Bút lục 65-76 bị hại V1 xác định khi bị cáo V nén điện thoại xuống nền thì chiếc điện thoại bị bể vỡ toàn bộ màn hình, thân vỏ cũng bị bể, bung rời ra. Tại Bút lục 95-96 chị H’ Ly Za M xác định chị là vợ bị hại V1 nên biết được đặc điểm điện thoại là được ốp lưng bên ngoài bằng 01 ốp nhựa màu nâu, khi V đập chiếc diện thoại của V1 thì thấy chiếc điện thoại này bị bể vỡ toàn bộ màn hình, thân vỏ điện thoại thì bị bể vỡ và tách làm hai phần, ốp điện thoại bị bung ra. Tại hình ảnh trích xuất tại các Bút lục 228, 229,230 được trích xuất từ điện thoại nhãn hiệu OPPO A53 cũng ghi nhận 01 ốp lưng màu nâu trên sàn nhà bị cáo Phạm Văn V. Do đó, cần xem xét làm rõ lại các lời khai của bị cáo, bị hại, nhân chứng như các vấn đề đã nêu trên để có căn cứ tiến hành thực nghiệm điều tra, xác định hiện trường theo đúng diễn biến sự việc xảy ra.

Ngoài ra, tại Biên bản ghi lời khai của ông Huỳnh Minh D, ông Kpă Y K và ông Vũ Hồng Q1 tại Bút lục 97-101, xác định vào khoảng 14 giờ ngày 03/03/2023 thì ông D có tiếp nhận thông tin trình báo từ bị hại ông V1 và vợ là chị H’ Ly Za M về việc bị đập điện thoại và đến chiều 16 giờ cùng ngày thì có lập biên bản thu giữ của bị hại V1 01 điện thoại Iphone 8 Plus, màu trắng bị vỡ màn hình, thân vỏ bị bung hở ra thành hai phần, còn bám dính (chưa tách rời). Do đó cần tiến hành làm rõ việc thu giữ tài liệu tại thời điểm nào? Đặc điểm điện thoại khi tiếp nhận như thế nào? Nguyên nhân do đâu đến ngày 20/4/2023 mới lập biên bản thu giữ? Trong khoảng thời gian từ ngày 03/3/2023 đến ngày 20/4/2023 thì vật chứng là chiếc điện thoại Iphone 8 Plus có bị tác động vật lý nào khác ngoài tác động của bị cáo V hay không?

Từ những nội dung phân tích, nhận định nêu trên. Xét thấy, quá trình điều tra, truy tố và xét xử của cấp sơ thẩm chưa đầy đủ, cấp phúc thẩm không thể bổ sung được. Do vậy, cần chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, hủy Bản án hình sự sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo (nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Đắk Lắk) để điều tra lại theo thẩm quyền.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355 và điểm b khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự:

[1] Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Phạm Văn V;

Hủy toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số: 37/205/HS-ST ngày 03/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk (nay là Tòa án nhân dân khu vực 9 - Đắk Lắk);

Giao toàn bộ Hồ sơ vụ án cho Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk (nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Đắk Lắk)) để điều tra, truy tố lại theo thủ tục chung;

[2] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Phạm Văn V không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ