vanban.org

Bản án 210/2025/DSST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn L.

Buộc bà Trần Thị T trả cho cho ông Nguyễn Văn L số tiền nợ hụi là 222.000.000 đồng. Trả tiền khi án có hiệu lực pháp luật. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Trần Thị T chậm thực hiện nghĩa vụ thì hàng tháng còn phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ lu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Nguyễn Văn L - Trần Thị T"
  • Tòa quyết gì? Xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn L.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 210/2025/DSST
Ngày: 15/9/2025
V/v tranh chấp: “Hợp đồng góp hụi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc An.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kim Chi.

2. Ông Phạm Văn Năm.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ngọc Hạnh.

Trong ngày 15 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở 2 Tòa án nhân dân khu vực 2 – Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 54/2025/TLST-DS ngày 18/7/2025 về tranh chấp: “Hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 270/2025/QĐXXST-DS ngày 14/8/2025 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1965.

Địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp T, xã P, tỉnh Đồng Tháp).

Đại diện ủy quyền của ông L: Chị Phan Thị Ngọc N, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp) (có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Bị đơn: Bà Trần Thị T, sinh năm 1967.

Địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp T, xã P, tỉnh Đồng Tháp) (vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 1. Bà Hồ Thị P, sinh năm 1965.

Địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp T, xã P, tỉnh Đồng Tháp) (có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Ông Lê Văn T1, sinh năm 1968.

Địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp T, xã P, tỉnh Đồng Tháp) (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn ông Nguyễn Văn L, đại diện ủy quyền chị Phan Thị Ngọc N trình bày:

Ông Nguyễn Văn L và bà Hồ Thị P là vợ chồng. Chị Trần Thị T và anh Lê Văn T1 là vợ chồng. Vợ chồng ông L và bà P là đầu thảo hụi, tổ chức các dây hụi cho các hụi viên tham gia chơi hụi. Vợ chồng chị T là hụi viên tham gia chơi hụi do vợ chồng ông L và bà P làm đầu thảo. Ông L và bà P có làm giấy xác nhận nợ vào ngày 12/9/2022 thì vợ chồng chị T còn nợ vợ chồng ông L và bà P số tiền cụ thể như sau:

* Tháng 9/2021:

- Hụi 5.000.000 đồng khui ngày 05/01/2020 (âm lịch) 02 phần chết: 02 x 5.000.000 đồng = 10.000.000 đồng.

- Hụi 3.000.000 đồng khui ngày 10/10/2018 (âm lịch) 02 phần chết: 02 x 3.000.000 đồng = 6.000.000 đồng.

- Hụi 2.000.000 đồng khui ngày 10/11/2020 (âm lịch) 01 phần chết: 01 x 2.000.000 đồng = 2.000.000 đồng.

Tổng tháng 9/2021: 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng).

* Tháng 10/2021:

- Hụi 5.000.000 đồng khui ngày 05/01/2020 (âm lịch) 02 phần chết: 02 x 5.000.000 đồng = 10.000.000 đồng.

- Hụi 3.000.000 đồng khui ngày 10/10/2018 (âm lịch) 02 phần chết: 02 x 3.000.000 đồng = 6.000.000 đồng.

- Hụi 2.000.000 đồng khui ngày 10/11/2020 (âm lịch) 01 phần chết: 01 x 2.000.000 đồng = 2.000.000 đồng.

Tổng tháng 10/2021: 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng).

* Tháng 11/2021:

- Hụi 5.000.000 đồng khui ngày 05/01/2020 (âm lịch) 02 phần chết: 02 x 5.000.000 đồng = 10.000.000 đồng.

- Hụi 3.000.000 đồng khui ngày 10/10/2018 (âm lịch) 02 phần chết: 02 x 3.000.000 đồng = 6.000.000 đồng.

- Hụi 2.000.000 đồng khui ngày 10/11/2020 (âm lịch) 01 phần chết: 01 x 2.000.000 đồng = 2.000.000 đồng.

Tổng tháng 11/2021: 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng).

* Tháng 12/2021:

- Hụi 5.000.000 đồngkhui ngày 05/01/2020 (âm lịch) 02 phần chết: 02 x 5.000.000 đồng = 10.000.000 đồng.

- Hụi 3.000.000 đồng khui ngày 10/10/2018 (âm lịch) 02 phần chết: 02 x 3.000.000 đồng = 6.000.000 đồng.

- Hụi 2.000.000 đồng khui ngày 10/11/2020 (âm lịch) 01 phần chết: 01 x 2.000.000 đồng = 2.000.000 đồng.

Tổng tháng 12/2021: 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng).

* Tháng 01/2022:

- Hụi 5.000.000 đồng khui ngày 05/01/2020 (âm lịch) 02 phần chết: 02 x 5.000.000 đồng = 10.000.000 đồng.

- Hụi 2.000.000 đồng khui ngày 10/11/2020 (âm lịch) 01 phần chết: 01 x 2.000.000 đồng = 2.000.000 đồng.

Tổng tháng 01/2022: 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng).

* Tháng 02/2022:

- Hụi 5.000.000 đồng khui ngày 05/01/2020 (âm lịch) 02 phần chết: 02 x 5.000.000 đồng = 10.000.000 đồng.

- Hụi 2.000.000 đồng khui ngày 10/11/2020 (âm lịch) 01 phần chết: 01 x 2.000.000 đồng = 2.000.000 đồng.

Tổng tháng 02/2022: 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng).

* Tháng 3/2022:

- Hụi 5.000.000 đồng khui ngày 05/01/2020 (âm lịch) 02 phần chết: 02 x 5.000.000 đồng = 10.000.000 đồng.

- Hụi 2.000.000 đồng khui ngày 10/11/2020 (âm lịch) 01 phần chết: 01 x 2.000.000 đồng = 2.000.000 đồng.

Tổng tháng 3/2022: 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng).

* Tháng 4/2022:

- Hụi 5.000.000 đồng khui ngày 05/01/2020 (âm lịch) 02 phần chết: 02 x 5.000.000 đồng = 10.000.000 đồng.

- Hụi 2.000.000 đồng khui ngày 10/11/2020 (âm lịch) 01 phần chết: 01 x 2.000.000 đồng = 2.000.000 đồng.

Tổng tháng 4/2022: 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng).

* Tháng 5/2022:

- Hụi 5.000.000 đồng khui ngày 05/01/2020 (âm lịch) 02 phần chết: 02 x 5.000.000 đồng = 10.000.000 đồng.

- Hụi 2.000.000 đồng khui ngày 10/11/2020 (âm lịch) 01 phần chết: 01 x 2.000.000 đồng = 2.000.000 đồng.

Tổng tháng 5/2022: 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng).

* Tháng 6/2022:

- Hụi 5.000.000 đồng khui ngày 05/01/2020 (âm lịch) 02 phần chết: 02 x 5.000.000 đồng = 10.000.000 đồng.

- Hụi 2.000.000 đồng khui ngày 10/11/2020 (âm lịch) 01 phần chết: 01 x 2.000.000 đồng = 2.000.000 đồng.

Tổng tháng 6/2022: 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng).

* Tháng 7/2022:

- Hụi 5.000.000 đồng khui ngày 05/01/2020 (âm lịch) 02 phần chết: 02 x 5.000.000 đồng = 10.000.000 đồng.

- Hụi 2.000.000 đồng khui ngày 10/11/2020 (âm lịch) 01 phần chết: 01 x 2.000.000 đồng = 2.000.000 đồng.

Tổng tháng 7/2022: 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng).

* Hụi 2 triệu khui ngày 10/11/2020 (30 phần) từ tháng 8/2022 (âm lịch) đến tháng 6/2023 (âm lịch) mãn: (15 tháng x 2.000.000 đồng) - 14.000.000 đồng (hụi sống) = 16.000.000 đồng.

* Tiền nợ hụi từ tháng 05/2021 trở về trước: 50.000.000 đồng.

Tổng cộng số tiền hụi chị Trần Thị T còn nợ vợ chồng ông L và bà P là 222.000.000 (hai trăm hai mươi hai triệu) đồng.

Khi làm xác nhận nợ, hai bên thống nhất vợ chồng chị T sẽ trả hoàn tất số tièn nêu trên trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày xác nhận nợ nhưng cho đến nay, vợ chồng chị T chưa trả được cho vợ chồng ông L và bà P số tiền nào. Đã rất nhiều lần vợ chồng ông L yêu cầu chị T và anh T1 trả cho vợ chồng ông L số nợ trên vì vợ chồng chị T chơi hụi và nhờ ông L vay tiền đóng tiền hụi là nhằm mục đích chăm lo cho kinh tế chung của gia đình nhưng vợ chồng chị T cứ hẹn hết lần này đến lần khác mà không trả. Việc vợ chồng chị T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho vợ chồng ông L và bà P đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng ông L.

Nay ông Nguyễn Văn L yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết:

Buộc bà Trần Thị T có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn L số tiền hụi còn thiếu là 222.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị P trình bày:

Thống nhất với ý kiến của ông Nguyễn Văn L, không có ý kiến nào khác.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Trần Thị T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn T2 vắng mặt không lý do, không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn L dù đã được Tòa án triệu tập và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Quan hệ tranh chấp giữa các bên đương sự là tranh chấp “Hợp đồng góp hụi” cần được xem xét, giải quyết theo quy định tại Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Đại diện ủy quyền của nguyên đơn chị Phan Thị Ngọc N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị P có đơn xin vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn bà Trần Thị T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn T2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng và không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Đại diện ủy quyền của nguyên đơn chị Phan Thị Ngọc N vắng mặt nhưng có đơn trình bày với nội dung thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, theo đó ông Nguyễn Văn L yêu cầu bà Trần Thị T có nghĩa trả cho ông L số tiền hụi còn lại là 222.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi, trả tiền khi án có hiệu lực pháp luật, không yêu cầu ông Trần Văn T2 liên đới trả số tiền nợ hụi. Xét việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của đại diện ủy quyền của nguyên đơn chị Phan Thị Ngọc N là tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bà Trần Thị T là hụi viên tham gia các dây hụi do vợ chồng ông Nguyễn Văn L và bà Hồ Thị P làm đầu thảo từ tháng 09 năm 2021 đến tháng 7 năm 2022, 01 dây hụi khui ngày 10/11/2020 và nợ hụi từ tháng 5 năm 2021 trở về trước là 50.000.000 đồng. Ngày 12/9/2022 bà Hồ Thị P là vợ ông Nguyễn Văn L và bà Trần Thị T thống nhất số tiền hụi bà T còn nợ vợ chồng ông L và bà P tổng cộng là 222.000.000 đồng. Hai bên có làm giấy nợ tiền hụi và bà T có ký tên vào giấy nợ tiền hụi. Xét giấy nợ tiền hụi ngày 12/9/2022 cho thấy giữa bà Hồ Thị P và bà Trần Thị T đã xác lập hợp đồng góp hụi, có lãi và hưởng hoa hồng và bà T ký tên vào giấy nợ tiền hụi tổng cộng là 222.000.000 đồng. Từ ngày 12/9/2022, bà Trần Thị T không trả tiền hụi còn nợ cho vợ chồng ông Nguyễn Văn L cho đến nay. Do đó, việc ông Nguyễn Văn L khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị T trả số tiền nợ hụi còn thiếu là 222.000.000 đồng là có căn cứ.

Bị đơn bà Trần Thị T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng tuy có nộp bản tự khai nhưng không đưa ra tài liệu, chứng cứ phản đối yêu cầu của nguyên đơn và vắng mặt tại các phiên hòa giải, phiên tòa là đã từ bỏ quyền lợi của mình, đồng thời đây cũng là những tình tiết và sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về phương thức thanh toán: Đại diện ủy quyền của nguyên đơn chị Phan Thị Ngọc N yêu cầu bà Trần Thị T trả số tiền 222.000.000 đồng, trả tiền khi án có hiệu lực pháp luật. Bà Trần Thị T không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của đại diện ủy quyền của nguyên đơn.

Về án phí: Bị đơn bà Trần Thị T phải nộp 11.100.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn ông Nguyễn Văn L đã 60 tuổi và có đơn xin miễn nộp tạm ứng án phí và án phí, nên được miễn án phí theo quy định tại điểm đ Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, do đó ông L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 471; khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn L.

- Buộc bà Trần Thị T trả cho cho ông Nguyễn Văn L số tiền nợ hụi là 222.000.000 đồng. Trả tiền khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Trần Thị T chậm thực hiện nghĩa vụ thì hàng tháng còn phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

2. Về án phí: Bà Trần Thị T phải nộp 11.100.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Chị Phan Thị Ngọc N, ông Nguyễn Văn L, bà Trần Thị T, bà Hồ Thị P và ông Trần Văn T2 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ