vanban.org

Bản án 210/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 03/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn c vào điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Phan Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Phan Văn T 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15 tháng 6 năm 2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "PHAN VĂN T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Căn c vào điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 210/2023/HS-ST
Ngày: 03-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Công.

Bà Trần Ngọc Phƣơng.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nghĩa, Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 216/2023/HSST ngày 13 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 207/2023/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Phan Văn T, sinh năm: 1989; nơi sinh: tỉnh Nghệ An; nơi thƣờng trú: Xóm 12, xã C, huyện Y, tỉnh Nghệ An; chỗ ở hiện nay: Khu phố 3, phƣờng B, thành phố Đ, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn V và bà Trần Thị S; bị cáo có vợ Phạm Thị P và 03 con;

Tiền án:

- Ngày 29/10/2019 bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 350/2019/ST (chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/12/2019).

- Ngày 07/9/2020 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 435/HSPT (chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/01/2022).

Tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15 tháng 6 năm 2022 cho đến nay; có mặt.

- Bị hại: Ông Bùi Văn T1, sinh năm 1976; nơi thƣờng trú: 74 đƣờng 11, tổ 7, khu phố 4, phƣờng G, thành phố Đ, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.

Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng: Ông Phạm T2, sinh năm 1998 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 15/6/2022, Phan Văn T đang ở phòng trọ có đối tƣợng tên T3 là bạn bè quen biết ngoài xã hội của T đến phòng trọ rủ T tìm tài sản để trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài thì T đồng ý.

T3 điều khiển xe mô tô kiểu dáng Wave màu đỏ (không rõ biển số) chở T đi từ khu vực phƣờng B, thành phố Đ, Thành phố Hồ Chí Minh đến khu vực phƣờng Vĩnh Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng tìm tài sản trộm cắp. Khi chạy đƣợc một đoạn thì T3 lấy từ trong túi quần ra 01 cây đoản chữ T là dụng cụ để bẻ khóa đƣa cho T cất giữ. Khi T3 điều khiển xe mô tô chở T đi đến trƣớc cổng Công ty EUROLIFE chi nhánh Bình Dƣơng tại địa chỉ: Lô 62, Ô 32, đƣờng số 40, khu dân cƣ Vĩnh Phú 1, khu phố Phú Hội, phƣờng Vĩnh Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng thì phát hiện 01 xe mô tô hiệu Honda Future màu đỏ-đen, biển số 59X3 - 362.34 của ông Bùi Văn T1 để ở gần cổng ra vào của công ty nên T3 dừng xe trƣớc cổng công ty để cảnh giới, còn T đi bộ vào bên trong cổng của công ty rồi lấy cây đoản đƣợc cất trong ngƣời bẻ khóa xe mô tô trên. Sau đó, T3 đẩy xe mô tô ra đƣờng đi đƣợc một đoạn rồi nổ máy xe tẩu thoát nhƣng không nổ máy đƣợc. Lúc này, ông T1 điều khiển xe tải về đến công ty thì phát hiện T đang lấy trộm xe mô tô nên tri hô. T bỏ xe chạy bộ tẩu thoát thì bị ông T1 và ngƣời dân xung quanh bắt giữ, còn T3 điều khiển xe mô tô chạy thoát.

Biên bản và kết luận định giá tài sản ngày 16/6/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng Hình sự thành phố Thuận An kết luận: 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Future màu đỏ-đen, biển số 59X3 - 362.34, số khung: 7638JZ059624, số máy: JC76E385500 có trị giá là: 27.000.000 đồng (hai mƣơi bảy triệu đồng).

Tại Bản Cáo trạng số 108/CT-VKS -TA ngày 04 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo Phan Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung v n giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất, m c độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo m c hình phạt từ 03 (ba) năm tù đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: không có.

Về xử lý vật ch ng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 01 (một) đoản sắt hình chữ T có một đầu đƣợc mài dẹp, 01 (một) khẩu trang vải sọc ca rô và 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh lá có in chữ Honda An Thành. Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Future màu đỏ-đen, biển số 59X3 - 362.34, số khung: 7638JZ059624, số máy: JC76E385500 là vật ch ng trong vụ án, quá trình điều tra, xác định do ông Bùi Văn T1 đ ng tên chủ sở hữu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Thuận An đã trả lại cho ông T1 là có căn c .

Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng theo nội dung Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo đã ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội; bị hại v n giữ nguyên ý kiến trong quá trình điều tra, bị hại đã nhận lại đƣợc tài sản trên và không có yêu cầu gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Tại phiên toà, bị cáo Phan Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng nhƣ nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo trƣớc Tòa. Lời nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra phù hợp với các ch ng c , tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị hại và ngƣời làm ch ng trong vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 15/6/2022 tại Công ty EUROLIFE Việt Nam, địa chỉ Lô 62, Ô 32, đƣờng số 40, khu dân cƣ Vĩnh Phú 1, khu phố Phú Hội, phƣờng Vĩnh Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, bị cáo có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Future màu đỏ-đen, biển số 59X3 - 362.34 của bị hại ông Bùi Văn T1 trị giá 27.000.000 đồng, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân đƣợc pháp luật bảo vệ. Trong vụ án này, bị cáo là ngƣời trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận th c đƣợc hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại là vi phạm pháp luật hình sự nhƣng vì tham lam, tƣ lợi bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phƣơng. Do đó, cần xử phạt bị cáo m c án tƣơng x ng với tính chất, m c độ hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo suy nghĩ lại hành vi phạm tội của mình, giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần cân nhắc tính chất và m c độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây; ba và mẹ của bị cáo là những ngƣời có công với cách mạng đƣợc tặng thƣởng nhiều huân, huy chƣơng, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đƣợc quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đối chiếu với m c hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Future màu đỏ-đen, biển số 59X3 - 362.34, số khung: 7638JZ059624, số máy: JC76E385500 là tài sản của bị hại nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã trả lại cho bị hại là đúng quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Không có.

Về xử lý vật ch ng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) đoản sắt hình chữ T có một đầu đƣợc mài dẹp, 01 (một) khẩu trang vải sọc ca rô và 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh lá có in chữ Honda An Thành.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn c vào điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Điều 106, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Phan Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Phan Văn T 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15 tháng 6 năm 2022.

2. Về xử lý vật ch ng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) đoản sắt hình chữ T có một đầu đƣợc mài dẹp; 01 (một) khẩu trang vải sọc ca rô và 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh lá có in chữ Honda An Thành.

(Theo biên bản giao nhận vật ch ng, tài sản ngày 03 tháng 4 năm 2023 giữa Chi cục Thi hành dân sự thành phố Thuận An và Công an thành phố Thuận An).

3. Về trách nhiệm dân sự: Không có.

4. Về án phí: Bị cáo Phan Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ