- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lù Văn P - Tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Lù Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 210/2022/HS-ST Ngày 03 - 10 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Phạm Thị Cúc
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đăng Cường
2. Bà Hồ Thị Lan
- Thư ký phiên tòa: bà Phạm Thị Lý - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố
Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng
Ninh tham gia phiên tòa: ông Trần Anh Tuấn - Kiểm sát viên
Ngày 03 tháng 10 năm 2022 tại Phòng xử án Toà án nhân dân thành phố
Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 186/2022/TLST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 202/2022/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:
Lù Văn P, tên gọi khác: không, sinh ngày 27 tháng 6 năm 1998 tại tỉnh
Lai Châu; nơi thường trú: Bản Nà Hừ 2, xã B, huyện M, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 11/12; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lù Văn O và bà Pờ Thị T; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt ngày 02/8/2022, hiện đang bị tạm giam; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 22 giờ 45 phút ngày 02/8/2022, tại đoạn đường thuộc tổ 30, khu 3,
phường H, thành phố H1, tỉnh Quảng Ninh, Công an phường Hùng Thắng phát hiện, bắt quả tang Lù Văn P có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ tại tay trái của P 04 túi gói giấy bạc, bên trong chứa chất bột màu trắng; thu tại túi quần bên phải của P 01 gói giấy bạc, bên trong chứa chất bột màu trắng và 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia, màu đen, số thuê bao 0977.347.920.
Tại Kết luận giám định số 1277/KL-KTHS ngày 08 tháng 8 năm 2022 của
Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: chất bột màu trắng có trong 05 gói giấy bạc thu giữ của Lù Văn P là ma túy, loại Heroine, tổng khối lượng là 0,212 gam (không phẩy hai một hai gam).
Tại Cáo trạng số: 194/CT-VKSHL ngày 14/9/2022 của Viện kiểm sát
nhân dân thành phố Hạ Long đã truy tố bị cáo Lù Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long giữ
nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lù Văn P từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/8/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; về xử lý vật chứng: căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, trả cho Lù Văn P 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia, màu đen, số thuê bao 0977.347.920.
Quá trình khai báo bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, việc bị đưa ra xét
xử là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, việc khai báo tự nguyện không bị ép buộc.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an
thành phố Hạ Long, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, bảo đảm các quyền, nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội:
Lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện, bản thân sử dụng chất
ma túy từ đầu năm 2022. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 22 giờ ngày 02/8/2022, P đến khu vực ngã tư Ao Cá gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 05 gói ma túy, với giá 1.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy P cất giấu trong người rồi đi tìm nơi sử dụng thì bị Công an kiểm tra, bắt giữ.
Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến; phù hợp
với biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an phường Hùng Thắng, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh lập vào hồi 23 giờ 00 phút ngày 02/8/2022, phù hợp với Kết luận giám định số 1277/KL-KTHS ngày 08/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Hành vi của bị cáo Lù Văn P đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma
túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích
mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a)…
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc
XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
Về tính chất mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo: hành vi của
bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới sự độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, ma túy là hiểm họa và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm xã hội khác. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối với xã hội cũng như đối với sức khỏe, nhưng đã bất chấp sự ngăn cấm của pháp luật, cất giữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích thỏa mãn việc sử dụng ma túy của bản thân, thể hiện sự coi thường pháp luật. Do đó, cần xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo,
ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp
dụng.
Về vật chứng vụ án: số ma túy thu của bị cáo Lù Văn P đã sử dụng hết
trong quá trình giám định nên không đề cập.
01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia + kèm 01 sim thu của Lù Văn P
không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho chủ sở hữu.
Đối với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ
Long tại phiên tòa đề nghị áp dụng điều luật, mức hình phạt đối với bị cáo, xử lý vật chứng là có căn cứ phù hợp với nhận định của Tòa án.
Về án phí: bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên được miễn án phí theo quy
định của pháp luật.
Quá trình điều tra không làm rõ được người đàn ông đã bán ma túy cho P
nên không có căn cứ để xác minh, xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật
Hình sự.
Tuyên bố: Lù Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Lù Văn P 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt
02/8/2022.
Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trả lại Lù Văn P 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia model 1203, màu đen, đã
qua sử dụng + kèm 01 sim.
(tình trạng vật chứng trên như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số
232/BB-THA ngày 21/9/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long).
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1
Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lù Văn P.
Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền
kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND TP Hạ Long; - CQĐT Công an TP Hạ Long, CQTHAHS Công an thành phố Hạ Long; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - TAND tỉnh Quảng Ninh; - Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh; - Sở tư pháp tỉnh Quảng Ninh; - Chi cục THADS TP Hạ Long; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Thị Cúc |